Trang chủ Sinh viên & Tuổi trẻ Sinh viên & Tuổi trẻ EPICS: Một mô hình nên được nhân rộng cho sinh viên ngành kỹ thuật

EPICS: Một mô hình nên được nhân rộng cho sinh viên ngành kỹ thuật

Các cơ sở giáo dục đại học tại Việt Nam ngày càng quan tâm hơn đến việc nâng cao kỹ năng mềm cho sinh viên. Trong số đó, kỹ năng biết triển khai hoạt độngnghiên cứu khoa học là một trong những hoạt động không thể thiếu đối với sinh viên các trường chuyên ngành kỹ thuật. Tuy nhiên, phần nhiều những nghiên cứu của sinh viên đều dừng lại ở lý thuyết và rất ít nghiên cứu được phát triển để có thể ứng dụng trong thực tiễn. Gần đây, TS.Phùng Anh Tuấn - Trưởng Bộ môn Thiết bị Điện, Điện tử, trường Đại học Bách khoa Hà Nội đã nhắc đến một chương trình học tập mang tên EPICS. Chương trình này không còn xa lạ với các nước trên thế giới nhưng tại Việt Nam vẫn chưa được phổ biến. Để hiểu rõ hơn về chương trình học này cũng như lợi ích mà nó mang lại cho các bạn sinh viên, Tạp chí Tự động hóa ngày nay đã có buổi trò chuyện với TS.Phùng Anh Tuấn.

alt

TS.Phùng Anh Tuấn - Trưởng Bộ môn Thiết bị Điện - Điện tử, Trường Đại học Bách khoa Hà Nội

PV: Gần đây, trong một bài viết của mình, ông có nhắc đến EPICS, ông có thể giải thích rõ hơn về khái niệm này?

TS.Phùng Anh Tuấn: EPICS là từ viết tắt của cụm từ Enginering Projects In Community Service - Các dự án kỹ thuật phục vụ cộng đồng. Khái niệm này ra đời từ năm 1995 tại trường Đại học Purdue của Hoa Kỳ.

Có một thực tế là các tổ chức cung cấp dịch vụ cho cộng đồng cần nỗ lực rất nhiều trong việc ứng dụng tiến bộ công nghệ để cải thiện, phối hợp và triển khai các dịch vụ mà họ chịu cung ứng. Do vậy, họ cần có những người có nền tảng chuyên môn kỹ thuật tốt để hỗ trợ họ. Ở một khía cạnh khác, sinh viên chưa tốt nghiệp phải đối diện với một tương lai mà ở đó, họ cần có kiến thức và kinh nghiệm để có thể thành công hơn. Khi đó, sinh viên được mong đợi là phải biết cách làm việc với nhiều người đến từ nhiều xuất phát điểm khác nhau. Họ cũng được kỳ vọng là biết cách xác định vấn đề và hoàn thành chúng. Do vậy, họ cần được “huấn luyện” các kinh nghiệm để có thể thành công hơn.

Thách thức ở đây là phải làm thế nào để mang hai nhóm này lại gần nhau dựa trên nguyên tắc đôi bên cùng có lợi. EPICS được ra đời nhằm hiện thực hóa việc này. EPICS là một chương trình đào tạo, trong đó nhóm sinh viên thuộc các lĩnh vực STEM - khoa học, công nghệ, kỹ thuật và toán học, sẽ hợp sức với nhau để cùng thiết kế, xây dựng và triển khai một hệ thống thực phục vụ cộng đồng bằng cách sử dụng kỹ năng giải quyết dự án kỹ thuật.

EPICS được xây dựng nhằm giải quyết hai vấn đề: Sinh viên tốt nghiệp thiếu kỹ năng thực tế cần cho việc quản trị dự án như lên kỹ năng lập kế hoạch và quản lý ngân sách, kỹ năng tìm kiếm và khai phá thông tin, kỹ năng thuyết phục và trình bày dự án; Các tổ chức phi lợi nhuận không có đủ nguồn tài chính cho dịch vụ kỹ thuật chuyên nghiệp để thiết kế những sản phẩm hỗ trợ cần thiết. EPICS hoàn thiện kỹ năng của những sinh viên chưa tốt nghiệp, thông qua chương trình học và cung cấp dịch vụ cho những tổ chức phi lợi nhuận.

Sau khi áp dụng thành công ở 15 trường đại học tại Mỹ, EPICS được mang đến Việt Nam thông qua Dự án BUILD-IT và Chương trình STEM của Công ty Dow Việt Nam. Hiện nay, đã có nhiều trường đại học kỹ thuật tham gia tích cực vào chương trình này. Bên cạnh đó, còn có những cuộc thi được tổ chức hàng năm và thu hút được nhiều sinh viên tham gia.

PV: Vậy khi đưa EPICS vào ứng dụng trong trường đại học sẽ mang lại những lợi ích gì cho sinh viên?

TS.Phùng Anh Tuấn: Khi đưa EPICS ứng dụng trong trường đại học, bước đầu sẽ giúp cho sinh viên xác định được mục tiêu hoặc tạo cho sinh viên có động lực học tập. Mục tiêu của EPICS, theo tôi, không phải là hướng sinh viên đến việc tham gia vào những cuộc thi tìm kiếm ý tưởng, mà phải là bồi dưỡng khả năng triển khai ý tưởng đơn giản một cách có hệ thống. Cụ thể là kỹ năng xác định hoặc tìm kiếm vấn đề cần giải quyết, kỹ năng xây dựng mục tiêu và bảo vệ quan điểm, kỹ năng thuyết trình và tranh luận logic, kỹ năng quản lý dự án, kỹ năng quản lý tài chính.

EPICS sẽ mang đến cơ hội để sinh viên được trải nghiệm các kỹ năng đó như một kỹ sư thực thụ. Thông qua việc học qua các dự án, sinh viên học được cách làm việc nhóm, cách đưa ra ý tưởng, bảo vệ ý tưởng và sau đó trình bày ý tưởng để thuyết phục các nhà đầu tư tiềm năng.

Và khi bài toán kỹ thuật này được đưa vào trong trường học sẽ tạo ra những chủ đề nghiên cứu cho sinh viên, thậm chí là cả học sinh. Vì vậy, ngay từ khi còn ngồi trên ghế nhà trường, học sinh/sinh viên sẽ được rèn luyện các kỹ năng sáng tạo và có thể kịp thời giải quyết được một số vấn đề cơ bản khi cộng đồng có nhu cầu.

Bằng việc đem đầu bài trong cộng đồng trở thành nhiệm vụ nghiên cứu hoặc sáng tạo cho sinh viên/học sinh sẽ đáp ứng được hai mục tiêu: Thứ nhất, giúp cho người học có kỹ năng về mặt tổ chức dự án, phương pháp tranh luận khoa học tốt hoặc xây dựng được giải pháp phù hợp; Thứ hai, tạo ra những sản phẩm thiết thực để giải quyết nhu cầu của cộng đồng.

PV: Theo ông, sinh viên nên bắt đầu học chương trình EPICS từ năm thứ mấy? Tại sao?

TS.Phùng Anh Tuấn: Theo cá nhân tôi, để đạt được hiệu quả cao, sinh viên nên bắt đầu làm quen với chương trình EPICS từ năm thứ nhất.

Khi bước vào cánh cửa đại học, trước hết sinh viên phải xác định được mục tiêu hoặc xây dựng cho bản thân mục tiêu học tập. Khi đó, trường đại học sẽ là nơi hỗ trợ các công cụ và điều kiện cần thiết để hiện thực hóa kế hoạch của các em sinh viên.

Một kỹ năng mà EPICS trang bị cho sinh viên là làm thế nào để tìm kiếm hoặc phát hiện nhu cầu. Có một thực tế là nhu cầu trong đời sống rất đa dạng, nhưng để có thể phát hiện nhu cầu thì cần có những kỹ năng cơ bản nhất định. Khi chưa phát hiện được nhu cầu của cộng đồng thì chưa thể đi tìm cách giải quyết được. Vì thế, sinh viên cần được tiếp cận với EPICS từ sớm vì nó sẽ giúp các em xác định rõ mục tiêu mà các em mong muốn. Khi sinh viên lựa chọn mục tiêu học tập thì điều đó sẽ dẫn đến 2 kết cục không thú vị: Một là bạn đó không có động lực học tập, do vậy kết quả học tập của bạn đấy kém. Thứ hai, vấn đề trong cộng đồng còn tồn tại và chưa có người giải quyết.

Như vậy, các em sẽ đi học với mục tiêu rất rõ ràng và có thể thấy được việc đăng ký chuyên ngành đã chọn có giá trị gì và cung cấp được kiến thức gì cho em. Và kiến thức ấy sẽ giúp ích gì cho việc em mong muốn giải quyết.

alt

Sinh viên Võ Văn Quốc - Đại học Bách khoa Đà Nẵng chia sẻ về mô hình “Đệm thông minh”. Đây là một trong 21 mô hình được hình thành và phát triển bởi những nhóm sinh viên tham dự chương trình EPICS trong khoảng thời gian 3 tháng của học kỳ xuân năm 2018 và đoạt giải nhất cuộc thi Dự án kỹ thuật phục vụ cộng đồng (Ảnh: Nhịp cầu Đầu tư)

PV: Vậy những khó khăn mà sinh viên sẽ gặp phải khi tham gia chương trình EPICS từ năm thứ nhất và giảng viên sẽ phải chuẩn bị những gì để hỗ trợ cho sinh viên, thưa ông?

TS.Phùng Anh Tuấn: Có một câu hỏi chắc chắn có rất nhiều bạn sinh viên đã từng đặt ra là “Học để làm gì hoặc học xong để làm gì”. Một tỉ lệ rất lớn ở các bạn sinh viên thường là chưa được làm quen với việc bản thân là chủ thể của hoạt động học tập. Bởi vậy, sinh viên năm nhất của trường Bách Khoa nói riêng và của đại đa số trường đại học nói chung rất thụ động trong học tập. Đây chính là một trong những khó khăn ban đầu khi để các em tiếp cận với EPICS.

Khi đăng ký môn học, sinh viên chưa xác định rõ bản thân cần gì và sẽ làm được gì sau khi học xong thì rất khó để ra quyết định cho việc nên học môn nào. Nhưng với EPICS, sinh viên phải tự đặt ra câu hỏi và đề xuất phương án/kế hoạch của bản thân. Điều đó sẽ tạo được sự hứng thú trong quá trình học tập cũng như tăng khả năng tư duy, lập luận của bản thân người học. Tiếp theo đó, thầy cô sẽ là người hỗ trợ định hướng cho các em theo đúng chuyên ngành liên quan để em thực hiện được kế hoạch đã đặt ra.

Thứ hai, trở ngại cũng đến từ hệ thống giảng viên. Có nhiều thầy cô có phương pháp giảng dạy tốt, lôi cuốn, hấp dẫn, tạo động lực khai phá kiến thực của sinh viên. Nhưng cũng có thầy cô giảng dạy chỉ để hoàn thành nhiệm vụ giảng bài của mình, chứ không có nhiệm vụ khơi gợi niềm đam mê hoặc phát triển ý tưởng của sinh viên. Cũng là điều khó vì giảng viên phải tuân thủ chương trình đào tạo có mục tiêu xác định. Chính vì vậy mà EPICS là một chương trình độc lập với chương trình đào tạo.

EPICS luôn yêu cầu người học là phải có mục tiêu và bản thân đi học để giải quyết được kế hoạch đã đặt ra, không phải thu nạp kiến thức của người khác nhưng lại không biết dùng vào việc gì.

Chính vì vậy, để hỗ trợ sinh viên ngay từ bước đi đầu, giảng viên phải tìm hiểu kĩ EPICS là gì và có nhiệm vụ khơi gợi niềm đam mê hoặc phát triển ý tưởng của các em.

PV: Theo đó, để sinh viên tham gia chương trình EPICS một cách hiệu quả thì nhà trường cần hỗ trợ sinh viên những gì, thưa ông?

TS.Phùng Anh Tuấn: Hãy lấy đích là vấn đề cần được giải quyết trong cộng đồng, sinh viên sẽ được huấn luyện để tìm kiếm vấn đề, thực hiện khảo sát và đề xuất những phương án, đối sánh và thực thi phương án tốt nhất để giải quyết bài toán mang lại hiệu quả. Nhà trường sẽ giúp sinh viên: Thứ nhất, sẽ cung cấp kiến thức, định hướng cho các em thực hiện nhiệm vụ đề xuất; Thứ hai, cung cấp không gian sáng tạo mở; Thứ ba, tìm kiếm, huấn luyện và bồi dưỡng những em sinh viên có kiến thức giỏi và có năng lực tổ chức tốt.

PV: Là người đã từng tham gia khóa đào tạo về EPICS tại Hoa Kỳ, ông có ý kiến gì để mô hình EPICS phát triển tại Việt Nam?

TS.Phùng Anh Tuấn: Hiện tại, ở Việt Nam mô hình EPICS vẫn đang ở giai đoạn phát triển, nên cần đưa EPICS vào chương trình học từ sớm để sinh viên có điều kiện khai phá ý tưởng, nuôi dưỡng và xây dựng kế hoạch. Chúng ta hãy chung sức tham gia việc phá bỏ ý niệm rằng sinh viên năm nhất không biết làm gì. Từ đó, các bạn có định hướng về ngành nghề, việc học tập của các bạn có mục tiêu hơn và sẽ làm cho hoạt động học tập có ý nghĩa, thú vị hơn. Các vấn đề của cộng đồng, do đó, sẽ có thêm cơ hội để được giải quyết.

Cần có những phòng lab sáng tạo liên ngành (FabLab) nhằm cung cấp công cụ, không gian cho sinh viên nhiều ngành cùng tập trung thực hiện đề tài, trao đổi, cọ xát với nhau và để xây dựng kế hoạch hiện thực hóa ý tưởng đó.

Những trường đại học kỹ thuật nên có nhiều mô hình lab mở liên ngành (Cơ khí, Điều khiển, Tự động hóa, Điện, Công nghệ sinh học, Hóa học). Lab chung như vậy sẽ: Một là, cho phép chia sẻ tài nguyên và tăng tần suất sử dụng của thiết bị lên; Hai là, ý tưởng/sản phẩm khi được tạo ra sẽ nhận được sự phản biện của những chuyên ngành khác. Như vậy, sản phẩm hoặc ý tưởng được tạo ra sẽ có nhiều cơ hội đi vào thực tế hơn rất nhiều lần.

Cảm ơn ông về những chia sẻ trên!

TĐHNN số tháng 3/2020


Newer news items:
Older news items:

 

Hỗ trợ online

Hỗ trợ Web
Mr Phương: 0988906030

Liên kết & Quảng cáo


 

logost new




 


 



Nhà tài trợ


Sửa biến tần

Mới cập nhật

Quảng cáo&Liên kết