Trang chủ Diễn đàn Bộ môn Tự động hóa công nghiệp: Bước tiếp chặng đường 55 năm trong thời cơ và thách thức mới

Bộ môn Tự động hóa công nghiệp: Bước tiếp chặng đường 55 năm trong thời cơ và thách thức mới

 

Bộ môn Tự động hóa công nghiệp ra đời cách đây 55 năm trong thời kỳ miền Bắc đang bước vào quá trình xây dựng Xã hội chủ nghĩa. Có thể nói sự ra đời của bộ môn lúc đó có ý nghĩa đặc biệt trong việc cung cấp nguồn nhân lực kỹ thuật cho khu vực sản xuất công nghiệp. Trải qua 55 năm xây dựng và trưởng thành, đến nay bộ môn ngày càng khẳng định được vị thế của mình trong nhiệm vụ đào tạo và cung cấp nguồn nhân lực công nghệ cao cho đất nước trong thời kỳ mới. Bước tiếp chặng đường sau 55 năm, trong bối cảnh mới của đất nước cũng như thế giới, chắc chắn đang có những thời cơ và thách thức mới dành cho những người làm công tác đào tạo. Nhân kỷ niệm 55 năm ngày thành lập bộ môn, PV Tạp chí Tự động hóa ngày nay có cuộc trao đổi với người đứng đầu bộ môn, PGS. Trần Trọng Minh xoay quanh câu chuyện này. 

alt

PGS. Trần Trọng Minh, Trưởng Bộ môn Tự động hóa công nghiệp, ĐHBKHN 

PV: Thưa PGS. Trần Trọng Minh, ông có thể cho biết từ năm 2008 đến nay, theo định hướng phát triển của ĐH Bách khoa Hà Nội (ĐHBKHN), Bộ môn Tự động hóa công nghiệp đã có những thay đổi đáng kể nào?

PGS. Trần Trọng Minh: Những thay đổi của bộ môn thể hiện trong các mảng công việc và lĩnh vực sau đây:

Trước hết, về mặt giảng dạy tất cả các môn học đều đảm bảo có giáo trình, bài giảng, đề thi, bài tập, đồ án do các nhóm chuyên môn soạn thảo. Bộ môn Tự động hóa công nghiệp gồm những nhóm chuyên môn sau đây: 1. Điện tử công suất; 2. Truyền động điện và trang bị điện máy công nghiệp; 3. Robot công nghiệp; 4. Điều khiển quá trình công nghiệp; 5. Vi điều khiển và ứng dụng; 6. Các phòng thí nghiệm (PTN) gồm: PTN Truyền động điện, PTN Điện tử công suất, PTN PLC và điều khiển công nghiệp, PTN Vi điều khiển và ứng dụng. Việc phân chia nhóm chuyên môn đảm bảo sinh hoạt diễn ra giữa các thành viên trong nhóm một cách gần gũi cũng như việc hoạch định các nội dung như xây dựng thí nghiệm, chuẩn bị các đề tài nghiên cứu khoa học các cấp thuận lợi hơn.

Hiện nay PTN cho các môn học cơ sở như Điện tử công suất, Truyền động điện đã chuyển về Trung tâm thí nghiệm thực hành của Viện Điện. Bộ môn tiếp tục xây dựng các phòng thí nghiệm dành cho mục đích nghiên cứu chuyên sâu.

Tự động hóa tiếp tục là một trong những ngành thu hút sinh viên đứng hàng đầu trong Trường ĐHBKHN. Tỷ lệ kỹ sư tốt nghiệp loại khá giỏi luôn luôn chiếm khoảng từ 20 đến 25%.

Với sự trợ giúp của nhà trường và các cố gắng của bộ môn cơ sở vật chất, môi trường làm việc đã được cải cách hoàn toàn. Mặc dù còn khó khăn về diện tích nhưng mỗi cán bộ đã có một chỗ ngồi làm việc đàng hoàng, đảm bảo khả năng làm việc nghiêm túc, hiệu quả.

Về nghiên cứu khoa học bộ môn có bước chuyển biến mạnh mẽ. Bộ môn đã chủ trì và thực hiện ba đề tài cấp nhà nước, một số đề tài cấp bộ và cấp trường. Hiện nay các cán bộ bộ môn cũng đang chủ trì và tham gia trong hai đề tài cấp nhà nước (giai đoạn 2016-2020). Các cán bộ bộ môn đã tham gia và đóng góp tích cực cho các Hội nghị khoa học về Tự động hóa toàn quốc VCCA (VCCA 2013 tại Đà Nẵng, VCCA 2015 tại Thái Nguyên và sắp tới VCCA 2017 tại thành phố Hồ Chí Minh). Số lượng công bố báo chí trên các tạp chí khoa học chuyên ngành đã tăng lên rất mạnh trong những năm qua. Công tác đào tạo cấp cao các bậc Thạc sĩ và Tiến sĩ. Công tác nghiên cứu khoa học (NCKH) của sinh viên cũng được bộ môn tổ chức liên tục trong các năm, nhiều cán bộ và các nhóm sinh viên đoạt giải cao trong các kỳ báo cáo NCKH của sinh viên.

Đặc biệt, về nguồn nhân lực trong những năm qua có thể nói đã được trẻ hóa hoàn toàn, độ tuổi trung bình 41,9, độ tuổi khỏe và đã đủ chín chắn trong công việc.

PV: Để nâng cao chất lượng đào tạo thì hoạt động NCKH và giảng dạy luôn song hành trong cùng một bộ môn. Hoạt động NCKH của bộ môn hiện nay đang được định hướng như thế nào, thưa ông?

PGS. Trần Trọng Minh: Cùng những thay đổi đã nói đến ở trên về các kết quả liên quan đến NCKH, định hướng trong lĩnh vực này tập trung vào các nội dung sau:

Một là, tham gia đăng ký và thực hiện các đề tài cấp nhà nước. Việc đăng ký và được chấp nhận các đề tài ở cấp nhà nước (ĐTNN) là cơ hội lớn để tiến hành những nghiên cứu chuyên sâu với sản phẩm của đề tài là những sản phẩm khoa học công nghệ ở cấp cao, tương đối hoàn chỉnh, có thể đưa ra thực tế phục vụ công nghiệp. ĐTNN có thời gian khoảng 2 năm, với nguồn kinh phí đủ lớn là điều kiện rất tốt để các nhà khoa học chứng tỏ khả năng hiện thực hóa các nhiệm vụ khoa học phức tạp, trên các mặt lý thuyết cũng như các quá trình thiết kế, chế tạo, thử nghiệm. ĐTNN huy động sự tham gia của nhiều người chính là môi trường thuận lợi để nâng cao trình độ và năng lực nghiên cứu của các cán bộ trong bộ môn. Hoàn thành được các ĐTNN là những đóng góp cho khoa học rõ ràng nhất của các cán bộ bộ môn trong những năm qua.

Hai là, đăng ký và tham gia đề tài khoa học ở các cấp cơ sở, cấp bộ, cấp trường. Đề tài cấp cơ sở thường có thời hạn 1 năm, với nguồn kinh phí tương đối nhỏ nhưng hoàn toàn phù hợp với những nhiệm vụ khoa học cụ thể. Ngoài sản phẩm của đề tài thì yêu cầu phải có ít nhất một bài báo đăng trên các tạp chí uy tín, trong nước hay quốc tế, là cơ hội cho những cán bộ trẻ tích lũy năng lực khoa học của mình.

Ba là, tham gia các đề tài chuyển giao công nghệ tại các cơ sở công nghiệp trong cả nước. Trong rất nhiều năm các cán bộ của bộ môn đã thực hiện nhiều hợp đồng chuyển giao công nghệ, sửa chữa, nâng cấp, thiết kế mới tại nhiều nhà máy công nghiệp như nhà máy giấy, nhà máy đường, nhà máy bia, nhà máy xi măng, hóa chất, nhiệt điện, thủy điện,... Các công trình này đã gây dựng được uy tín của Bộ môn Tự động hóa Công nghiệp trong các cơ sở này. Việc tham gia các công trình tại các nhà máy cũng là điều kiện để bộ môn gắn kết giữa lý thuyết, công tác giảng dạy với thực tiễn công nghiệp, điều luôn được coi là mặt mạnh của bộ môn kể từ khi thành lập đến nay. 

PV: Trong sự nghiệp CNH, HĐH của đất nước, đặc biệt trong thời kỳ mà cả thế giới đang hướng về Công nghiệp 4.0, nhân lực tự động hóa đang trở thành nguồn lao động có cơ hội hơn bao giờ hết nhưng cũng sẽ trở thành thách thức cho các cơ sở đào tạo. Theo ông, thách thức đó là gì?

PGS. Trần Trọng Minh: Đây thực sự là một câu hỏi rất khó vì nhận thức về Cách mạng Công nghiệp lần thứ tư (CMCN4) của chúng ta, ở các cấp khác nhau, vẫn chưa hoàn toàn đầy đủ. Trong khi đó, nền công nghiệp Việt Nam đang đứng ở đâu khi so sánh với 3 cuộc cách mạng trước đó cũng chưa được xác định rõ ràng.

Đứng ở vị trí của bộ môn, công tác chủ yếu là đào tạo và nghiên cứu khoa học. Để nhìn nhận sự tác động cũng như thách thức của Công nghiệp 4.0, cần phải đánh giá một cách toàn diện trên cả 2 lĩnh vực này của bộ môn.

Trước hết về vấn đề đào tạo, Công nghiệp 4.0 đang tạo ra những sự thay đổi mang tính chất đúng nghĩa cách mạng trên rất nhiều phương diện và nhiều lĩnh vực. Xuyên suốt các cuộc cách mạng công nghiệp, chúng ta đều thấy rõ sự hiện diện của tự động hóa. Cuộc cách mạng lần này, tự động hóa cũng là yếu tố then chốt. Trong khi CMCN4 bùng nổ thì việc định hướng nhận thức của sinh viên cũng là công việc phải thực hiện. Bản thân các bạn sinh viên sau khi ra trường sẽ là nguồn nhân lực cho sự phát triển của công nghiệp nước nhà. Nhưng khi đặt ra sự so sánh giữa một bên là sự phát triển khoa học công nghệ ở mức độ cao và thông minh của cuộc CMCN4 với một bên là hệ thống công nghiệp vẫn còn rất khiêm tốn của Việt Nam thì người kỹ sư phải thích nghi như thế nào nếu không được trang bị những hành trang cơ bản từ bậc đại học? Việc đào tạo kỹ sư cần phải bám sát với định hướng phát triển của đất nước. Tuy nhiên, hiện nay việc định hướng này vẫn chưa thể hiện rõ ràng và cụ thể.

Đối với cán bộ giảng dạy cũng cần phải có sự thay đổi mang tính cách mạng. Điều này phải được thể hiện ở sự thay đổi trong nội dung giảng dạy mang tính cập nhật, trong phương thức truyền đạt, trong cả nhận thức của đội ngũ giảng viên. Sẽ không còn có thể sử dụng bài giảng cố định cho nhiều thế hệ sinh viên nữa mà nội dung phải thay đổi thường xuyên hàng năm thậm chí theo từng học kỳ, phải đọc và tiếp thu các công nghệ hiện đại trong lĩnh vực mình đảm nhiệm.

Trong việc nghiên cứu, các đề tài đề xuất cũng phải mang tính chất phù hợp với sự phát triển chung của thế giới. Chúng ta không thể nghiên cứu cái mà thế giới đã bão hòa mà phải đi theo lộ trình chung. CMCN4 giúp chúng ta có thể ứng dụng các thành tựu nói chung vào giải quyết các vấn đề cụ thể và chuyên sâu. Điều này giúp thúc đẩy nhanh hơn quá trình nghiên cứu và đem lại kết quả khả quan khi so sánh với các phương pháp trước đây. Tuy nhiên, vấn đề đặt ra là làm thế nào để đưa kết quả nghiên cứu ở trình độ cao áp dụng vào thực tiễn công nghiệp nhiều thiếm khuyết và thiếu đồng bộ.

PV: Là người đứng đầu bộ môn ông nhìn thấy tiềm năng, lợi thế nào mà bộ môn đang có hiện nay để giải quyết các thách thức đó?
PGS.Trần Trọng Minh: Bộ môn đang kế thừa, phát huy những truyền thống tốt đẹp đang có trong 55 năm qua. Đó là: đã và đang tích cực phát triển các mối quan hệ với các đơn vị bạn, các trường bạn và các doanh nghiệp. Bộ môn đã có mối liên hệ thiết thực về công việc với các đồng nghiệp của các bộ môn bạn trong Viện Điện. Bộ môn cũng đang có liên kết chặt chẽ với các bộ môn trong lĩnh vực tự động hóa của các trường đào tạo kỹ thuật trong cả nước. Trong công tác đào tạo nguồn nhân lực cấp cao cùng các trường bạn những nghiên cứu chuyên sâu của các nghiên cứu sinh đã làm phong phú và sâu sắc lên rất nhiều lĩnh vực chuyên môn của bộ môn.

Về hợp tác quốc tế, bộ môn có mối quan hệ với các trường đại học lớn từ các quốc gia khác như Nhật Bản (Đại học Tokyo, Đại học Kyoto), Đài Loan (Đại học Khoa học và Công nghệ Quốc gia Đài Loan), Đức (Trường Đại học Kỹ thuật Dresden),... thông qua công tác trao đổi sinh viên, các dự án đồng nghiên cứu.

Đặc biệt, bộ môn vẫn tiếp tục duy trì mối quan hệ gắn bó hợp tác với các nhà máy hàng đầu của Việt Nam về công nghệ sản xuất tự động hóa từ những năm 80 của thế kỷ trước ở Công ty Xi măng Hoàng Thạch, Tổng Công ty Giấy Việt Nam (Nhà máy Giấy Bãi bằng),... trong công tác đào tạo, NCKH và chuyển giao công nghệ. Ngoài ra, bộ môn cũng mở rộng tham gia thực hiện các hợp tác nêu trên với hàng loạt các xí nghiệp công nghiệp khác trên địa bàn trải rộng từ Bắc đến Nam trong các ngành công nghiệp Giấy, Xi măng, Nhiệt điện, Cơ khí, Luyện kim, Khai thác mỏ, In ấn, Rượu bia, Nước giải khát, Sản xuất thức ăn chăn nuôi,... Những mối quan hệ này không chỉ giúp sinh viên của bộ môn có nơi để thực hành, làm việc sau khi ra trường mà còn thúc đẩy các hoạt động NCKH và chuyển giao công nghệ giữa nhà trường và doanh nghiệp, giúp cán bộ giảng dạy của bộ môn cập nhật các tiến bộ KHKT mới trong công nghiệp sản xuất để truyền đạt cho sinh viên.

PV: Xin cảm ơn PGS về những chia sẻ trên!


TRÀ GIANG (thực hiện)

Theo Tạp chí Tự động hoá ngày nay số 195 (tháng 5/2017) 

 

 

alt 


Newer news items:
Older news items:

 

Hỗ trợ online

Hỗ trợ Web
Mr Phương: 0988906030

Liên kết & Quảng cáo






 



Nhà tài trợ


Sửa biến tần

Mới cập nhật

Tìm kiếm

Quảng cáo&Liên kết