Trang chủ Công nghệ & Ứng dụng Công nghệ & Ứng dụng Sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả nhìn từ mọi phía (Kỳ 2)

Sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả nhìn từ mọi phía (Kỳ 2)

Chính sách năng lượng của Việt Nam (Tiếp theo kỳ trước)


PGS. Lê Văn Doanh
Trường ĐHBK Hà nội
Quan điểm và chính sách năng lượng
Quan điểm và chính sách năng lượng của Việt Nam dựa trên sự hài hòa giữa hiệu quả kinh tế, an ninh năng lượng và bảo vệ môi trường. Cụ thể là: 1. Khai thác đa dạng, hợp lý và có hiệu quả nguồn tài nguyên trong nước, kết hợp với xuất nhập khẩu hợp lý trên cơ sở giảm dần, tiến đến không xuất khẩu nhiên liệu sơ cấp, đáp ứng nhu cầu năng lượng cho phát triển kinh tế xã hội, bảo tồn nhiên liệu và đảm bảo an ninh năng lượng cho tương lai

Nguồn điện hạt nhân ở nước ta dự tính xuất hiện vào khoảng 2020

2. Phát triển các công trình mới đồng thời với việc cải tạo nâng cấp các công trinh cũ. Sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả trong các khâu từ sản xuất, truyền tải, chế biến và sử dụng năng lượng.
3. Phát triển năng lượng đi đôi với bảo tồn tài nguyên, bảo vệ môi trường sinh thái. Đảm bảo phát triển bền vững ngành năng lượng.
4. Từng bước hình thành thị trường cạnh tranh, đa dạng hóa phương thức đầu tư và kinh doanh ngành năng lượng. Nhà nước chỉ độc quyền những khâu then chốt để đảm bảo an ninh năng lượng quốc gia.
5. Đẩy mạnh chương trình năng lượng nông thôn. Nghiên cứu phát triển các dạng năng lượng mới và tái tạo để đáp ứng cho nhu cầu sử dụng năng lượng, đặc biệt đối với các hải đảo, vùng sâu, vùng xa.
6. Phát triển nhanh ngành năng lượng theo hướng đồng bộ, hiệu quả, trên cơ sở phát huy nguồn nội lực, kết hợp với hợp tác quốc tế.
7. Phát triển dựa trên cơ sở sử dụng hợp lý, có hiệu quả nguồn tài nguyên năng lượng mỗi miền, đảm bảo cung cấp đầy đủ, liên tục, an toàn cho nhu cầu năng lượng của tất cả các vùng trong toàn quốc.
8. Khuyến khích các thành phần kinh tế tham gia phát triển nguồn điện trên cơ sở tiềm năng năng lượng sẵn có của Việt nam, hạn chế phụ thuộc vào năng lượng nhập khẩu.
Khung pháp lý thúc đẩy tiết kiệm năng lượng ở Việt Nam
Để thực hiện việc sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả Nhà nước đã xây dựng một loạt các văn bản có tính chất pháp quy, gồm ở:

Đập thủy điện Hòa Bình

Cấp chính phủ:
• Nghị định 102/2003/NĐ-CP về tiết kiệm năng lượng.
• Quyết định số 79/2006 QĐ-CP về Chương trình mục tiêu quốc gia về sử dụng năng lượng tiết kiệm hiệu quả. Tiếp theo Thủ tướng chớnh phủ ký quyết định số 1855/QĐ-TTg, phê duyệt Chiến lược phát triển năng lượng quốc gia đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2050.
• Cấp bộ:
• Thông tư 01/2004/TT/BCN hướng dẫn thực hiện Nghị định 102 của Chính phủ trong lĩnh vực sản xuất.
• Thông tư số 08/2006/TT-BCN hướng dẫn đăng ký, đánh giá, cấp phép nhãn cho các sản phẩm tiêu thụ năng lượng.
• Quyết định số 40/2005/QĐ-BXD về quy chế sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả trong các tòa nhà thương mại. Đây là các văn bản quan trọng nhằm sử dụng và phát triển năng lượng gắn liền với Chiến lược phát triển kinh tế-xã hội của đất nước trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa; phù hợp với xu hướng hội nhập quốc tế, sử dụng hiệu quả nguồn tài nguyên, thiết lập an ninh năng lượng quốc gia trong điều kiện mở.
• Các tổ chức quốc tế tích cực hỗ trợ Việt Nam trong nhiều dự án và chương trình tiết kiệm năng lượng ở Việt Nam như:
• Dự án Chiếu sáng công công hiệu quất cao VEEPL. Dự án này do Qũy Môi trường toàn cầu tài trợ, Viện KHCN Việt Nam chủ trì thực hiện với mục tiêu dỡ bỏ rào cản đối với hiệu suất năng lượng trong lĩnh vực Chiếu sáng công cộng, tiết kiệm được 1,32 tỷ kWh trong giai đoạn 2006-2014.
• Chương trình tiết kiệm năng lượng thương mại thí điểm CEEP do Qũy Môi trường toàn cầu thông qua Ngân hàng thế giới với mục tiêu khuyến khích phát triển dịch vụ tiết kiệm năng lượng mang tính chất thương mại, thử nghiệm các mô hình quản lý dự án và cơ chế tài chính nhằm hỗ trợ các hoạt động tiết kiệm năng lượng.
• Dự án Nâng cao hiệu quả sử dụng năng lượng trong các doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Việt Nam PECSME do Qũy Môi trường toàn cầu tài trợ với mục tiêu nhân rộng công nghệ hiệu quả năng lượng 5 ngành gạch, gốm sứ, giấy và bột giấy, dệt nhuộm và công nghệ thực phẩm.
Dự báo yêu cầu về năng lượng
Chiến lược đề ra mục tiêu phấn đấu: Đảm bảo cung cấp đủ năng lượng cho nhu cầu phát triển kinh tế-xã hội; trong đó có năng lượng sơ cấp năm 2010 khoảng từ 47,5-49,5 triệu TOE; đến năm 2020 đạt khoảng từ 100 -110 triệu TOE; đến năm 2050 đạt khoảng từ 310-320 triệu TOE. Chương trình này còn quy định rất cụ thể định hướng phát triển cho từng ngành năng lượng như: điện, dầu khí, năng lượng mới và tái tạo... cùng với các chính sách đảm bảo an ninh năng lượng quốc gia, chính sách giá, chính sách ưu tiên phát triển năng lượng mới, sử dụng năng lượng tiết kiệm, bảo vệ môi trường.... Đi đôi với việc chỉ ra các giải pháp phải thực hiện, Thủ tướng Chính phủ còn chỉ đạo các Bộ, ngành chức năng và các địa phương phải phối hợp với Bộ Công Thương thực hiện tốt Chiến lược phát triển năng lượng Quốc gia.
Theo tính toán nhu cầu năng lượng của ngành công nghiệp vào năm 2010 sẽ vào khoảng 13,4 đến 14 triệu TOE, năm 2020: khoảng 25,4 đến 28 triệu TOE, năm 2050 khoảng 110 đến 131 triệu TOE (tốc độ bình quân trung bình giai đoạn 2001- 2020 là 9,2- 9,7%/năm, giai đoạn 2020 đến 2050: từ 5- 5,3%/năm.
Tỷ trọng năng lượng tiêu thụ của ngành công nghiệp sẽ tăng lên đến 42% vào năm 2020 và 52 đến 53% vào năm 2050. Trong ngành này, tỷ trọng điện sẽ tăng từ 21% năm 2003 lên 34% vào năm 2020, than sẽ giảm từ 51% xuống còn 26%, khí đốt tăng lên và chiếm tỷ trọng khoảng 10% trong giai đoạn 2010 - 2020.
Đối với ngành giao thông vận tải nhu cầu năng lượng 2010 vào khoảng 11,3 triệu TOE, năm 2020: Khoảng 21,5-24 triệu TOE, năm 2050: khoảng 55-72 triệu TOE; tỷ trọng tiêu thụ năng lượng của ngành giao thông vận tải sẽ giảm dần từ 35% hiện nay xuống còn 27% vào năm 2050. Đối với ngành dịch vụ vào năm 2010 là khoảng 2,2 triệu TOE, năm 2020: khoảng 2,7-3,4 triệu TOE, năm 2050: khoảng 16-21 triệu TOE; tỷ trọng tiêu thụ năng lượng giữ ổn định trong khoảng 7-8%.
Nhu cầu năng lượng của ngành nông nghiệp được dự báo là khoảng 1 triệu TOE vào năm 2010, 2020 khoảng 1,4 -1,5 triệu TOE, năm 2050: khoảng 3,4 -3,8 triệu TOE. Tỷ trọng tiêu thụ năng lượng sẽ giảm dần từ 5% hiện nay xuống còn 2-3% vào từ sau năm 2010. Đối với khu vực dân dụng, tiêu thụ năng lượng sẽ tăng dần theo sự tăng dân số, tốc độ đô thị hóa và mức tăng thu nhập.
Dự báo nhu cầu năng lượng cho dân dụng vào năm 2010 sẽ là khoảng 4,4 triệu TOE, năm 2020: khoảng 8,2-8,6 triệu TOE, năm 2050: khoảng 22-24 triệu TOE, tỷ trọng tiêu thụ năng lượng sẽ giảm từ mức 14% hiện nay xuống còn 10 -12% vào giai đoạn sau năm 2020.
Đến năm 2010-2020, nhu cầu tiêu thụ điện sẽ tiếp tục tăng nhanh hơn GDP, với hệ số đàn hồi điện /GDP lớn hơn 1 từ sau năm 2020, hệ số đàn hồi nhỏ hơn 1 (nhu cầu điện toàn quốc lên tới khoảng 93-100 tỷ kWh vào năm 2010, khoảng 200-230 tỷ kWh vào năm 2020, khoảng 625-766 tỷ kWh vào năm 2050; sản lượng điện bình quân dầu người đến năm 2020 đạt khoảng 2.058-2.350 kWh, đến năm 2050: khoảng 6.100-7.500 kWh.
Sử dụng than sẽ tiếp tục tăng một cách ổn định. Trong khi than làm chất đốt sinh hoạt tăng chậm (khoảng 1,5%/năm) và giảm dần tỷ trọng từ 30% hiện nay xuống còn 20% vào năm 2010 than sử dụng để phát điện tăng nhanh, đạt khoảng 10 triệu tấn vào năm 2010, khoảng 15-20 triệu tấn vào năm 2020, khoảng 85-110 triệu tấn vào năm 2020 (phụ thuộc khí đốt và phương pháp phụ tải)
Tổng nhu cầu than trong nước ta sản xuất khoảng 20 đến 30 triệu tấn, 30-40 triệu tấn, 150-190 triệu tấn tương ứng với các năm 2010, 2020, 2050.
Đặc biệt, là một nước đang phát triển nên nhu cầu tiêu thụ sản phẩm xăng dầu ở Việt Nam sẽ tăng rất nhanh, với mức trung bình khoảng 9-10%/năm trong giai đoạn từ năm 2010, 6-7%/ năm 2011-2020 và khoảng 4,5%/năm từ năm 2021 - 2050. Nhu cầu các sản phẩm xăng dầu vào các năm 2010: sẽ vào khoảng 13,4-14 triệu TOE, 2020: khoảng 25,4 -28 triệu TOE, 2050: khoảng 101-131 triệu TOE, tương ứng là khoảng 11,2 triệu tấn 17,5-18 triệu tấn.
Nhu cầu dầu làm nguyên liệu trong công nghiệp hóa dầu tăng nhanh: cần trên 5 triệu tấn vào năm 2005, khoảng 8 triệu tấn vào năm 2010 và trên 17 triệu tấn vào năm 2020. Tương tự là nhu cầu tiêu thụ khí (80% cho sản suất ): điện năm 2010 cần khoảng 8-10 tỷ m3,và có thể lên đến 14-18 tỷ m3 vào năm 2020, tùy thuộc vào khả năng cấp khí.
Từ một nước xuất khẩu năng lượng, bắt đầu từ năm 2013 dự kiến Việt Nam sẽ trở thành nước nhập khẩu năng lượng với tỉ lệ khoảng 25-27% vào năm 2020, khoảng 57-62% vào năm 2050 (không kể nhiên liệu hạt nhân). Nhưng con số này có thể lớn hơn nữa nếu ngay từ bây giờ ngành năng lượng Việt Nam không có sự đầu tư lớn và quyết liệt cho cân bằng giữa cung và cầu về năng lượng.
Theo ước tính tổng vốn đầu tư cho phát triển ngành năng lượng từ năm 2002-2020 sẽ lên đến khoảng 78,5 tỷ USD, trong đó giai đoạn từ năm 2002-2010 cần khoảnh 36,9 tỷ USD, giai đoạn từ năm 2011-2020 cần 41,6 tỷ USD.
Đầu tư cho ngành điện sẽ chiếm khoảng 4% GDP trong giai đoạn đến năm 2010, khoảng 2,5% trong giai đọan từ năm 2011-2020; đầu tư cho ngành dầu khí chiếm khoảng 3-4% GDP trong giai đoạn từ năm 2010 và khoảng 1,7-2% trong giai đoạn sau; đầu tư cho ngành than chiếm khoảng 0,15- 0,2%GDP. Đối với ngành điện đến năm 2020 sẽ khai thác gần hết tiềm năng thủy điện trên các dòng sông chính (tổng công suất các ngành thủy điện sẽ lên đến 8.800 MW, sản lượng điện khoảng 35 tỷ KWh vào năm 2010; tương ứng là 15.000 MW, khoảng 60 tỷ kWh vào năm 2020).
Nguồn nhiệt điện khí sẽ được phát triển tại khu vực miền Nam (tổng công suất các nhà máy điện sử dụng khí đốt khoảng 7.000MW, tiêu thụ khoảng 6,3-7 tỷ m3 khí vào năm 2010 tương ứng là 11.000-14.000MW, 11,5-15 tỷ m3 và năm 2020, tùy theo khả năng cung cấp khí). Các nhà máy nhiệt điện than sẽ có tổng công suất khoảng 4.200 MW tiêu thụ khoảng 10 triệu tấn, 46-54 tỷ kWh, tiêu thụ 20-30 triệu tấn than; đến năm 2050, nguồn điện than sẽ sản xuất khoảng 210-300 tỷ kWh, tiêu thụ khoảng 80-110 triệu tấn than.
Nguồn điện hạt nhân (tổ máy đầu tiên dự tính xuất hiện vào khoảng 2020 tại Phước Dinh và Vĩnh Hải tỉnh Ninh Thuận) với 4 tổ máy 1000 MW. Nguồn điện nhập khẩu (trước hết là từ Lào, sau đó là Trung Quốc, Campuchia) sẽ có công suất lên đến 400 MW vào năm 2010 vào khoảng 4.000 MW vào năm 2020, 10.000MW vào năm 2050.
Đồng thời trong giai đoạn đến năm 2010, sẽ phải xây dựng trên 230 km đường dây, xây dựng mới mở rộng 12 trạm biến áp với tổng dung lượng 850 MVA thuộc lưới điện 500kV; xây dựng trên 5.000 km đường dây và xây dựng mới mở rộng 85 trạm biến áp với tổng dung lượng 15.600 MW thuộc lưới điện 220kV…
Đối với ngành than, sẽ tiến hành đầu tư, cải tạo, mở rộng và đầu tư các mỏ để tăng sản lượng lên 23-24 triệu tấn vào năm 2010; duy trì sản lượng tối đa các mỏ lộ thiên, đầu tư mới thêm một số mỏ hầm lò tại Quảng Ninh và bể than đồng bằng Bắc Bộ để đạt sản lượng than khai thác 30- 40 triệu tấn vào năm 2020 (trong đó có 1,5 triệu tấn được khai thác tại Khoái Châu, Hưng Yên)
Ngành dầu khí cũng cần đầu tư để đẩy mạnh công tác tìm kiếm thăm dò dầu khí thông qua việc khôi phục và đẩy mạnh công tác thăm dò ở bể Sông Hồng; đàm phán và kí kết với các công ty dầu khí nước ngoài hợp đồng tìm kiếm thăm dò với các hình thức khác nhau đặc biệt là đối với những vùng nước sâu xa bờ; hợp tác tìm kiếm thăm dò và khai thác dầu khí với các nước có liên quan tại các khu vụ chồng lấn… nhằm đảm bảo gia tăng trữ lượng trung bình hàng năm khoảng 40 triệu tấn dầu quy đổi, nâng tổng trữ lượng xác minh khoảng 1,5-1,6 tỷ m3 dầu quy đổi.
Mục tiêu của ngành là đưa sản lượng khai thác dầu khí đạt 30-32 triệu tấn dầu quy đổi (khai thác trong nước: Dầu thô đạt khoảng 16 -18 triệu tấn, khí đạt khoảng 12-14 tỷ m3; khai thác từ nước ngoài: 2-3 triệu tấn dầu thô vào năm 2010.
Hàng loạt các công trình đường ống dẫn sẽ được đầu tư xây dựng: từ Phú Mỹ-TP HCM, hệ thống thu gom và vận chuyển khí mỏ Ruby-Emerald để cung cấp bổ sung cho đường ống khí Bạch Hổ các đường ống dẫn khí PM3-Cà Mau và Lô B – Ô Môn thuộc khu vực Tây Nam đường ống khí nối mạng miền Đông và Tây Nam Bộ để nâng cao an ninh cung cấp khí và hệ thống sử dụng đồng bằng Bắc Bộ (Thái Bình).
Bên cạnh đó khâu chế biến dầu khí cũng sẽ được đẩy mạnh nhằm từng bước đảm bảo an ninh nhiên liệu, đáp ứng 60-70% nhu cầu về sản phẩm trong nước, 50-60% nhu cầu phân đạm, 20-30% nhu cầu chất dẻo.
Sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả
Việc sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả có ý nghĩa rất quan trọng trong quá trình phát triển năng lượng. Thực hiện tốt công tác này sẽ góp phần đáp ứng nhu cầu sử dụng năng lượng ngày một cao hơn của nền kinh tế quốc dân, đồng thời bảo vệ được môi trường. Khai thác hợp lý các nguồn tài nguyên năng lượng giúp tiết kiệm ngoại tệ, phát triển kinh tế –xã hội một cách bền vững.
Tính toán cho thấy nếu giảm hệ số đàn hồi năng lượng (tỷ số giữa tốc độ tăng tiêu thụ năng lượng/tốc độ tăng trưởng GDP trong cùng giai đoạn) từ 1,46 hiện nay xuống 0,9 vào năm 2010, và 0,8 vào năm 2020 và các năm sau thì có thể tiết kiệm được khoảng 1 triệu TOE, tương đương với khoảng 250 triệu USD vào năm 2010 và 2 triệu TOE khoảng 500 triệu USD vào năm 2020.
Mục tiêu giảm hệ số đàn hồi trước hết là nhằm vào công nghiệp và giao thông vận tải – hai ngành tiêu thụ năng lượng chính (chiếm khoảng 38% và 35% nhu cầu năng lượng), tiếp đến là ngành thương mại, dịch vụ và dân dụng.
Ngành công nghiệp Việt Nam hiện đang có cường độ năng lượng rất lớn: Để làm ra 1000 USD giá trị gia tăng thì tiêu thụ khoảng 600-700 kg TOE. Các giải pháp chính được các chuyên gia xây dựng chính sách năng lượng quốc gia Việt Nam đưa ra đối với ngành này là cần thực hiện các biện pháp công nghệ, cải tiến quản lý sửa chữa phục hồi cải tiến thiết bị; đổi mới nâng cấp thiết bị thay thế các thiết bị có hiệu suất thấp đổi mới công nghệ, sử dụng thiết bị hiện đại có hiệu suất năng lượng cao; thực hiện các giải pháp khoa học và công nghệ nhằm thiết kế chế tạo các trang thiết bị và phương tiện sử dụng năng lượng.
Theo IEA để tạo nên 1 USD tổng sản phẩm quốc nội GDP Việt Nam tiêu tốn 1,02 kWh điện (hoặc 0,463 kg TOE), gần gấp hai lần Hàn Quốc, gấp ba lần rưỡi Pháp, gấp ba lần Hoa Kỳ. Từ một chục năm nay, cường độ tiêu thụ năng lượng trên thế giới giảm trung bình 0,5 % mỗi năm. Nhờ tiến bộ công nghệ, các nước công nghiệp giảm cường độ tiêu thụ năng lượng nhanh hơn. Từ mười năm nay, mỗi năm cường độ này giảm 0,6 % ở Hàn Quốc, 1,0 % ở Pháp và 2,2 % ở Hoa Kỳ. Việt Nam là một trong số ít quốc gia có cường độ tiêu thụ năng lượng gia tăng.
Đối với ngành giao thông vận tải, việc thực hiện tiết kiệm năng lượng có ý nghĩa lớn cả về kinh tế và môi trường, đặc biệt là các thành phố lớn. Các giải pháp được đưa ra đối với ngành này là tăng cường vận tải hành khách và hàng hóa bằng đường sắt thay cho đường bộ, nghiên cứu phát triển hệ thống tàu điện ngầm tại Hà Nội và thành phố HCM tăng cường sử dụng các loại xe có hiệu suất năng lượng cao, loại bỏ các phương tiện cũ và hiệu suất thấp; xây dựng quy hoạch giao thông trong các thành phố và quốc gia để xác định các tuyến vận tải hơp lý; thực hiện ưu đãi về thuế, đầu tư để phát triển hệ thống phân phối và phương tiện sử dụng khí hoá lỏng.
Đối với ngành chiếu sáng chương trình quốc gia Chiếu sáng tiết kiệm và hiệu quả đã được triển khai. Thông qua việc phát triển hệ thống chiếu sáng bao gồm xây dựng hệ thống mới, cải tạo hệ thống chiếu sáng cũ, gia tăng chất lượng chiếu sáng nhưng phải tìm cách giảm nhu cầu năng lượng cho chiếu sáng, đặc biệt là vào giờ cao điểm, thực hiện và vận hành chiếu sáng công cộng tốt hơn. Các hoạt động chuyển giao kỹ thuật sẽ hỗ trợ ngành chiếu sáng Việt Nam để đáp ứng những thị trường mới. Nâng cao chất lượng thiết kế và lắp đặt các thiết bị chiếu sáng sẽ làm cho chiếu sáng tốt hơn và nhất quán hơn cho đường phố và các cơ sở công cộng, góp phần quan trọng vào việc thực hiện cam kết quốc tế của Chính phủ Việt Nam về giảm khí thải gây hiệu ứng nhà kính. Trong thời gian qua và trong những năm sắp tới sự thiếu hụt điện năng không chỉ là vấn đề riêng của ngành điện mà đã trở thành vấn đề quan tâm của toàn thể xã hội. Theo dự báo từ nay đến năm 2010, nhu cầu điện của Việt Nam sẽ tăng bình quân 15%/1 năm.
Từ nay đến năm 2010, hàng năm Việt Nam cần từ 3 đến 4 tỷ USD để giải quyết năng lượng. Tập đoàn Điện lực Việt Nam chỉ có thể đảm bảo được từ 40-50% nhu cầu đầu tư kể trên do đó Việt Nam đã kêu gọi sự đầu tư nước ngoài. Nhiều tập đoàn nuớc ngoài đã chú ý đến thị trường Việt Nam. Tuy nhiên, một trong những khó khăn mà nhóm này gặp phải là tính chất phức tạp của tiến trình kí kết hợp đồng trong địa hạt năng lượng. Lí do là cần phải đàm phán với mọi cấp chính quyền từ Trung ương đến địa phương và với mọi đối tác kinh tế từ phía cung ứng nhiên liệu như tập đoàn dầu khí Petro Vietnam cho đến phía phân phối điện. Nói chung, gia tăng sản xuất điện đang là vấn đề thách thức lớn mà Việt Nam cần phải nhanh chóng giải quyết nếu không muốn đà tăng trưởng bị chậm lại. Nguy cơ thiếu hụt nguồn điện đã và đang hiện diện đặc biệt là vào mùa khô.

Các nhóm nội dung sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả
Nhóm nội dung 1: Tăng cường quản lý nhà nước về sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả, tổ chức hệ thống quản lý về tiết kiệm năng lượng. Trong nhóm nội dung này
• Đề án thứ nhất là hoàn thiện khung pháp lý về sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả trong sản xuất công nghiệp, trong quản lý các công trình xây dựng, trong sinh hoạt đời sống và trang thiết bị sử dụng năng lượng. Nội dung chính là ban hành các văn bản, xây dựng cơ chế chính sách về biểu giá năng lượng, xây dựng ban hành quy chuẩn xây dựng, xây dựng, ban hành 10 bộ tiêu chuẩn hiệu suất năng lượng cho 10 chủng loại thiết bị, soạn thảo trình Quốc hội thông qua Luật về sử dụng năng lượng.
Nhóm nội dung 2: Tăng cường giáo dục, tuyên truyền phổ biến thông tin, vận động cộng đồng, nâng cao nhận thức, thúc đẩy sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả. Nhóm nội dung này gồm có 3 đề án:
• Đề án thứ hai: Tuyên truyền nâng cao nhận thức về sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả trong nhân dân.
• Đề án thứ ba: Đưa các nội dung về giáo dục sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả vào hệ thống giáo dục quốc gia.
• Đề án thứ tư: triển khai thí điểm cuộc vận động xây dựng mô hình “Sử dụng tiết kiệm năng lượng trong mỗi gia đình”
Nhóm nội dung 3: Phát triển, phổ biến các trang thiết bị hiệu suất cao, tiết kiệm năng lượng, từng bước loại bỏ các trang thiết bị hiệu suất thấp.
Nhóm nội dung này có hai đề án.
• Đề án thứ năm: Phát triển các tiêu chuẩn và dán nhãn chứng nhận sản phẩm tiết kiệm năng lượng được lựa chọn.
• Đề án thứ sáu: Hỗ trợ kỹ thuật đối với các nhà sản xuất trong nước tuân thủ tiêu chuẩn hiệu suất năng lượng (thiết bị đun nước nóng bằng năng lượng mặt trời, quảng bá đèn compact, chiếu sang tiết kiệm điện, dán nhãn sản phẩm).
Nhóm nội dung 4: Sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả trong các doanh nghiệp sản xuất công nghiệp.
Nhóm nội dung này có hai đề án.
• Đề án thứ bẩy: Xây dựng mô hình quản lý và sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả trong các doanh nghiệp.
• Đề án thứ tám: Hỗ trợ các doanh nghiệp sản xuất công nghiệp thực hiện nâng cấp, cải tiến, hợp lý hóa dây chuyền công nghệ nhằm sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả.
Nhóm nội dung 5: Sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả trong các tòa nhà.
Nhóm nội dung này gồm có 2 đề án.
• Đề án thứ chín: Nâng cao năng lực và triển khai hoạt động sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả trong thiết kế xây dựn và quản lý các tòa nhà.
• Đề án thứ mười: Xây dựng mô hình và dựa vào hoạt động có nề nếp công tác quản lý sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả trong các tòa nhà
Nhóm nội dung 6: Sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả trong hoạt động giao thong vận tải.
Nhóm này có 1 đề án.
• Đề án thứ mười một: Khai thác tối ưu năng lực của phương tiện, thiết bị giao thông, giảm thiểu nhiên liệu tiêu thụ, hạn chế lượng phát thải vào môi trường.
Thành lập Ban chỉ đạo nhà nước Chương trình mục tiêu quốc gia về sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả đặt tại Bộ Công Thương, có sự phối hợp của Bộ Tài chính, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, UBND các tỉnh thành.
Mục tiêu cụ thể là phấn đấu tiết kiệm từ 3% đến 5% tổng mức tiêu thụ năng lượng toàn quốc giai đoạn 2006-2010 và từ 5% đến 8% trong giai đoạn 2011-2020 so với dự báo hiện nay về phát triển năng lượng và phát triển kinh tế-xã hội theo phương án phát triển bình thường.

Số 104 (5/2009)♦Tự động hóa ngày nay


Newer news items:
Older news items:

 

Hỗ trợ online

Hỗ trợ Web
Mr Phương: 0988906030

Liên kết & Quảng cáo







 



Nhà tài trợ


Sửa biến tần

Mới cập nhật

Tìm kiếm

Quảng cáo&Liên kết