Trang chủ Công nghệ & Ứng dụng Công nghệ & Ứng dụng Những rào cản lớn khi nhà khoa học tham gia vào Nông nghiệp thông minh

Những rào cản lớn khi nhà khoa học tham gia vào Nông nghiệp thông minh

Phát triển nông nghiệp thông minh (NNTM)) tại Việt Nam hiện nay không chỉ là để đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế của đất nước mà còn đáp ứng nhu cầu bức thiết về nguồn thực phẩm đảm bảo an toàn cho người dân. Chính vì vậy, từ năm 2012, Chính phủ và các cơ quan ban ngành đã quan tâm tạo cơ chế chính sách cho phát triển nông nghiệp thông minh. Sự mở đường về mặt cơ chế chính sách cũng như nhu cầu thực tế đặt ra không chỉ mang lại động lực cho nhà nông, nhà doanh nghiệp mà còn có những nhà khoa học tham gia vào lĩnh vực này. Vì để có được nền NNTM đòi hỏi phải có sự kết hợp của nhiều lĩnh vực công nghệ như sinh học, vật liệu, tự động hóa, công nghệ thông tin, các giống cây trồng, kỹ thuật, quy trình canh tác tiên tiến,... và đặc biệt cần được thông minh hóa - số hóa để tạo nên chuỗi giá trị. Đã có những giải pháp của nhà khoa học triển khai thành công trong thực tiễn, mang lại lợi ích kinh tế và đóng góp nguồn thực phẩm an toàn cho xã hội. Nhưng bên cạnh đó cũng có những giải pháp công nghệ chỉ dừng lại ở phòng thí nghiệm, hoặc triển khai thực tế nhưng có những rào cản khiến không phát huy được hiệu quả như mong đợi của nhà khoa học. Hay có nhà khoa học có năng lực triển khai giải pháp công nghệ, muốn bước vào NNTM nhưng lại không thể tiếp cận các nguồn đầu tư cho nghiên cứu. Có nhiều lý do cho thấy con đường đến với nông nghiệp thông minh của các nhà khoa học cũng còn nhiều chông gai.

altNhiều năm tham gia vào lĩnh vực NNTM, GS.TS. Trần Đại Lâm, Phó Giám đốc Học viện Khoa học và Công nghệ, Giám đốc Trung tâm Phát triển công nghệ hóa học nông nghiệp thuộc Viện Hàn lâm Khoa học Công nghệ Việt Nam chia sẻ: Đã là nhà khoa học nghiên cứu thì không thể tách rời phòng thí nghiệm, nhưng từ phòng thí nghiệm đến thực tế là một quãng đường vất vả. Khi sản xuất ở phòng thí nghiệm là quy mô nhỏ, từ quy mô nhỏ đó đến quy mô lớn ngoài nông trại là sự khác biệt. Có lúc nhà khoa học kết nối được với doanh nghiệp để đầu tư nhưng với số vốn ít ỏi thì quy mô để thử nghiệm cũng chỉ trên diện tích nhỏ. Mặt khác, sản phẩm từ phòng thí nghiệm về mặt khoa học là tốt nhưng ra thị trường giá cả không chắc cạnh tranh được với công nghệ giá rẻ ở ngoài. Đây cũng chính là lý do mà phần lớn các kết quả nghiên cứu của đề tài thì tốt nhưng không phát huy được hiệu quả trên thực tế. GS.TS. Trần Đại Lâm chia sẻ ngay từ đề tài nghiên cứu về thuốc trừ sâu sinh học mà mình tham gia: “Về mặt ý nghĩa của đề tài nghiên cứu là rất lớn, đóng góp vào chuỗi nông sản an toàn nhưng khi đưa sản phẩm vào thị trường lại khó khăn do việc cấm thuốc hóa học chưa triệt để và giá thuốc rẻ khiến người nông dân vẫn chuộng sử dụng thuốc hóa học”. Đề cập đến việc số hóa nông nghiệp, GS.TS. Trần Đại Lâm cho biết, với những dự án số hóa nông nghiệp lại càng đòi hỏi sự đầu tư lớn, dẫn đến sản phẩm đầu ra có giá thành cao, khó tiêu thụ nội địa, cần xuất khẩu. Nhưng để xuất khẩu được lại cần các khâu trung gian. Trong khi đó, khâu trung gian ở nước ta có người làm tốt nhưng có người lại thiếu công nghệ bảo quản, thiếu kết nối để tạo nên chuỗi giá trị.

Cũng là người “dấn thân” vào lĩnh vực NNTM trong những năm gần đây, Ths. Phạm Ngọc Minh, Trưởng Phòng Kỹ thuật điều khiển và Hệ thống nhúng - Viện Công nghệ thông tin - Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam chia sẻ: NNTM là nhu cầu thực sự của ngành nông nghiệp hiện nay, nhiều nhà khoa học Việt Nam cũng hoàn toàn làm chủ được về mặt nghiên cứu đề xuất giải pháp. Nhưng nếu chỉ là nhu cầu thực sự của ngành thì chưa đủ. Doanh nghiệp và nhà nông phải thực sự cần, phải thực sự có nhu cầu hợp tác với nhà khoa học. Ths. Phạm Ngọc Minh cũng chia sẻ, bản thân nhóm nghiên cứu của anh đã từng gặp trường hợp, sự hợp tác chỉ là ban đầu, khi chuyển giao xong thì gần như không phát huy được hiệu quả do doanh nghiệp không đầu tư nhân lực có kỹ thuật để vận hành hệ thống, không đầu tư mở rộng công nghệ. Cuối cùng kết quả không như kỳ vọng của nhà khoa học, tạo nên sụ hụt hẫng trong nghiên cứu. 

Thiếu tổng công trình sư cho sự kết nối khoa học trong NNTM khiến các ngành khoa học vẫn hoạt động độc lập, mà lẽ giữa các ngành này phải kết hợp với nhau để tạo nên số hóa nông nghiệp là rào cản rất lớn. “Sự liên kết giữa các ngành còn yếu mà bản chất làm nông nghiệp thông minh phải liên kết tự động hóa, sinh học, công nghệ thông tin,... Với một hội thảo quy mô, tập hợp nhiều nhà khoa học, mỗi bài trình bày đều thể hiện thế mạnh riêng của từng lĩnh vực khoa học nhưng chưa thấy đề cập đến sự kết nối các ngành lại với nhau”. Anh Hoàng Đỗ Thanh Tùng, Phòng Nghiên cứu hệ thống và Quản lý nhận xét bên lề Hội thảo “Nông nghiệp công nghệ cao: các vấn đề và giải pháp” diễn ra vào ngày 7/4 tại Học viện Nông nghiệp Việt Nam.

Nhìn thấy mảng thị trường lớn từ lĩnh vực NNTM nhưng lại khó để tìm được nơi để đăng ký đề tài, hay nơi để được tài trợ vốn nghiên cứu là bước cản lớn nhất đối với các nhà khoa học đang công tác tại Viện Điện của Trường Đại học Bách khoa Hà Nội. Đây là chia sẻ của TS. Hoàng Sĩ Hồng, Phó Viện trưởng Viện Điện. 

TS. Lương Vinh Quốc Danh, Bộ môn Điện tử Viễn thông - Khoa Công Nghệ - Đại học Cần Thơ có thể nói là người đam mê với lĩnh vực NNTM. TS. Lương Vinh Quốc Danh hiện đang thực hiện các giải pháp như Hệ thống giám sát thông số môi trường phục vụ nông nghiệp: hệ thống tưới tự động dựa trên mạng cảm biến độ ẩm đất phục vụ trồng cây cà phê, cây tiêu; hệ thống giám sát nhiệt độ, ẩm độ nhà trồng nấm; hệ thống giám sát thông số môi trường nhà màng, nhà lưới và trồng cây thủy canh; Hệ thống giám sát thông số môi trường ao nuôi tôm. Đã có một số giải pháp được đưa vào ứng dụng thực tế ở Cần Thơ, Bà Rịa - Vũng Tàu,... Điều may nắm theo TS. Lương Vinh Quốc Danh là các nghiên cứu đều xuất phát từ thực tế, rất thiết thực và được một doanh nghiệp phối hợp nhiệt tình đưa kết quả nghiên cứu vào sử dụng. Tuy nhiên, TS. Lương Vinh Quốc Danh cũng cho biết để có thể triển khai nhiều giải pháp công nghệ ra ngoài thị trường hơn nữa thì cái khó khăn của nhà khoa học là đa số doanh nghiệp Việt Nam có quy mô sản xuất nhỏ và vừa nên thiếu vốn đầu tư ban đầu để tiếp cận công nghệ mới. Ở một số nơi còn tồn tại tâm lý ngại thay đổi, ngại đưa ứng dụng giải pháp công nghệ, kỹ thuật mới vào sản xuất. Sự liên kết giữa Nghiên cứu - Quản lý & chuyển giao - Ứng dụng còn rời rạc. Do đó, cần có đơn vị trung gian làm cầu nối giữa doanh nghiệp, người nông dân và đơn vị có khả năng nghiên cứu, chuyển giao. Ngoài ra, TS. Lương Vinh Quốc Danh cũng chia sẻ kinh nghiệm là cần phải có hai yếu tố: kiên nhẫn và uy tín vì phần lớn doanh nghiệp, nông dân Việt Nam còn xa lạ với các kỹ thuật cao nên cần phải có cách tiếp cận phù hợp với từng đối tượng cụ thể. Điều đặc biệt quan trọng là thiết bị, sản phẩm được thiết kế, chế tạo phải đảm bảo được độ tin cậy, độ bền cao, dịch vụ hậu mãi tốt để giữ chữ tín đối với khách hàng NNTM thì quy mô phải lớn, phải làm theo quy trình công nghiệp.

NNTM là số hóa, có thể từng mức độ tùy thuộc vào khả năng đầu tư nhưng đỉnh cao của nó phải là số hóa được cả quy trình và phải tạo nên chuỗi giá trị mới bù lại được giá thành cho nhà đầu tư và giá thành sản phẩm phù hợp với đã số người tiêu dùng. Rõ ràng để đạt được những điều này không thể không có sự tham gia của các nhà khoa học, của các giải pháp công nghệ. Nhìn thì thấy NNTM là cả một thị trường rộng lớn, là một mảng nghiên cứu hấp dẫn với các nhà khoa học. Nhưng khi bắt tay vào làm còn không ít khó khăn.

alt
Giải pháp công nghệ giám sát môi trường nước thủy sản qua điện thoại thông minh do nhóm nhà khoa học thuộc Bộ môn Điện tử Viễn thông, Khoa Công nghệ, Đại học Cần Thơ phối hợp với Công ty Eplusi Technol- ogy triển khai tại trang trại nuôi tôm ở huyện Xuyên mộc, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu từ quý IV năm 2017. ảnh do TS. Lương Vinh Quốc Danh cung cấp

Tạp chí Tự động hóa ngày nay, số tháng 5/2018


Newer news items:
Older news items:

 

Hỗ trợ online

Hỗ trợ Web
Mr Phương: 0988906030

Liên kết & Quảng cáo






 



Nhà tài trợ


Sửa biến tần

Mới cập nhật

Tìm kiếm

Quảng cáo&Liên kết