Trang chủ Công nghệ & Ứng dụng Công nghệ & Ứng dụng IoT trong ngành công nghiệp từ lý thuyết tới thực tế

IoT trong ngành công nghiệp từ lý thuyết tới thực tế

Người ta ước tính rằng đến năm 2020, ứng dụng iot trong công nghiệp sẽ chiếm 16% gdp toàn cầu và các nhà sản xuất sẽ chi tiêu hơn 500 tỉ usd để thu hơn 1 nghìn tỉ usd  lợi nhuận đầu tư.

 

Cho đến nay, những hoài nghi xung quanh Internet of Things (IoT) đang bắt đầu được làm rõ khi ngày càng nhiều người tiêu dùng và các sản phẩm công nghiệp được kết nối. Tuy nhiên, mặc dù định nghĩa về IoT đã được phổ biến, sự hình thành của tương lai kết nối có vẻ như vẫn còn khá mịt mờ. Vậy xét cho cùng, giá trị của tất cả sự kết nối này là gì?

Điều quan trọng là, một khi các sản phẩm có khả năng kết nối, các nhà sản xuất và bên thứ ba có thể mang đến nhiều giá trị hơn tới khách hàng bằng cách cung cấp một loạt các giải pháp và dịch vụ. Thiết nghĩ, các nhà sản xuất cần thiết phải đánh thức những cơ hội này và hành động ngay.

Các ứng dụng    

Các nhà sản xuất có thể cung cấp các ứng dụng phần mềm cho phép khách hàng kết nối, điều khiển và kiểm soát từ xa đối với sản phẩm của họ. Nhà sản xuất cũng có thể cung cấp một giao diện lập trình ứng dụng (API) để cho phép sự kết nối của các đối tượng khác. Điều này tất nhiên mở rộng giá trị của sản phẩm bằng cách cung cấp các tính năng mới và những cách thức mới để tương tác với sản phẩm.

Premier Deicers, Công ty chuyên sản xuất thiết bị phá băng cho máy bay, có trụ sở tại Wisconsin (Hoa Kỳ). Giải pháp hệ thống “Guardian Angel Monitoring” của công ty cung cấp truy cập từ xa tới 29 chức năng của các thiết bị phá băng, từ áp lực chất lỏng tới các thành phần điện.

Khách hàng có thể truy cập vào đọc trực tiếp các tính chức năng khả dụng của thiết bị phá băng từ bất kỳ nơi nào với mạng Internet; có thể luôn luôn theo dõi và thống kê chính xác lượng chất lỏng đang được sử dụng và lượng chất lỏng còn lại.

Dịch vụ

Một cách thức quan trọng khác để các nhà sản xuất có thể tăng giá trị cho sản phẩm là cung cấp các dịch vụ kèm theo.

Các dịch vụ này tận dụng lợi thế của giá trị to lớn từ các dữ liệu được tạo ra bởi các sản phẩm khi kết hợp với kỹ thuật phân tích dữ liệu (đây có thể là bí quyết giúp các công ty tăng lợi thế cạnh tranh). Hai loại hình dịch vụ dựa trên IoT có khả năng mang lại cơ hội lớn nhất trong thời gian ngắn hạn cho ngành công nghiệp là bảo trì dự đoán và tối ưu hóa năng lượng.

Ví dụ, ABB kết nối các robot để cung cấp dịch vụ bảo trì dự đoán, giúp khách hàng giảm “thời gian chết” ngoài kế hoạch. Hay trong lĩnh vực tối ưu hóa năng lượng, giải pháp Trip Optimiser của General Electric (GE) là một giải pháp kiểm soát hành vi thông minh thu thập thông tin thời gian thực về vị trí địa lý của một chiếc tàu hỏa; trọng lượng; tiêu thụ nhiên liệu và thông tin địa hình cụ thể để tính toán tốc độ tối ưu cho một chuyến tàu. Điều này có thể giúp tiết kiệm hàng triệu Đô la chi phí nhiên liệu.

Hệ thống

Khi ứng dụng sâu hơn, các nhà sản xuất có thể cung cấp dịch vụ gắn liền với các sản phẩm kết nối, từ sản phẩm ở đơn vị đơn lẻ, tới sản phẩm cấp độ hệ thống, nơi diễn ra sự kết nối của nhiều sản phẩm khác nhau.

Tại đây, một nhà sản xuất hoặc một bên tích hợp hệ thống thứ ba có thể giám sát hiệu suất của từng thiết bị trong hệ thống và điều chỉnh các thông số và cách xử lý để tối ưu hóa hiệu suất của hệ thống tổng thể.

Đây là một cơ hội thực sự lớn. Một số ví dụ chỉ mới kể tên, hệ thống có thể bao gồm các thiết bị cùng loại (như một tuabin gió) hoặc thiết bị khác loại (như một nhà máy hoặc tòa nhà thông minh).

Nâng cấp

Một cách thú vị khác mà các nhà sản xuất có thể tăng thêm giá trị cho khách hàng là nâng cấp các sản phẩm mà họ đang trực tiếp sở hữu.

Kiểu dịch vụ như vậy sẽ ngày càng được cung cấp nhiều hơn thông qua nâng cấp phần mềm, và sẽ trở nên khả thi hơn, khi các nhà sản xuất giải quyết ngày càng nhiều vấn đề về thiết kế sử dụng phần mềm, hơn là phần cứng.

Ví dụ tinh túy nhất của một mô hình nâng cấp chính là Tesla. Công ty sản xuất xe chạy điện này đã cung cấp các bản cập nhật dòng xe Model S trong nhiều năm, và gần đây nhất là bản cập nhật tính năng tự lái Autopilot.

Được triển khai không dây tới tất cả các xe Model S tại Mỹ trong vòng một tuần, bản cập nhật về cơ bản biến mỗi chiếc xe đó trở thành một chiếc xe tự quản, xe tự lái mà yêu cầu sự kiểm soát của con người ở mức tối thiểu (tính đến hiện tại).

Dịch vụ hóa

Bước phát triển sâu hơn theo hướng này sẽ là chuyển đổi từ mô hình sản phẩm sang một mô hình dịch vụ (dịch vụ hóa sản phẩm). Trong tình huống này, khách hàng sẽ không trả tiền cho sản phẩm hoặc phụ tùng, mà là “đăng ký” sản phẩm và trả một khoản tiền cố định theo lịch trình định trước hàng tháng, hàng năm hoặc hàng quý. Một ví dụ của mô hình này là dịch vụ chiếu sáng của hãng Phillips tại Washington DC (Hoa Kỳ), khi hãng này cung cấp 13,000 thiết bị chiếu sáng cho tất cả các bãi đồ xe theo một hợp đồng thời hạn 10 năm, mà thành phố không phải trả một chi phí trả trước nào.

Phillips được trả tiền từ các khoản tiết kiệm những thiết bị chiếu sáng LED dự kiến được sử dụng mỗi năm. Các bóng đèn sẽ tự động cảnh báo tới Phillips khi chúng cần được sửa chữa. Sự chuyển đổi từ sản phẩm sang dịch vụ đặt trách nhiệm thẳng vào nhà sản xuất, để họ duy trì sự hoạt động của sản phẩm, nếu không, họ sẽ không được trả tiền.

Khi IoT được khai thác sâu hơn, giá trị của hệ sinh thái kết nối và các thông tin được thu thập sẽ trở nên rõ ràng hơn.

Đối với các nhà sản xuất, họ cần tăng cường xem xét các cơ hội cùng với các bộ sản phẩm để thiết lập một dòng lợi nhuận tiềm năng mới, hoặc ít nhất là để đảm bảo rằng họ đang cung cấp các dịch vụ tốt nhất cho khách hàng. Những người không thay đổi theo hướng này có thể sẽ có nguy cơ đánh mất những mảng kinh doanh truyền thống vào tay sản phẩm được kết nối.

Phan Trung Hiếu  Giám đốc Quốc gia Autodesk tại Việt Nam và Campuchia

Số 185 (7/2016)♦Tạp chí tự động hóa ngày nay


Newer news items:
Older news items:

 

Hỗ trợ online

Hỗ trợ Web
Mr Phương: 0988906030

Liên kết & Quảng cáo


 
 
 

logost new




 


 



Nhà tài trợ


Sửa biến tần

Mới cập nhật

Tìm kiếm

Quảng cáo&Liên kết