Trang chủ Công nghệ & Ứng dụng Công nghệ & Ứng dụng Doanh nghiệp Việt tham gia thiết kế, tích hợp, cung cấp các hệ thống điều khiển tự động

Doanh nghiệp Việt tham gia thiết kế, tích hợp, cung cấp các hệ thống điều khiển tự động

1. Đặt vấn đề
Dựa trên sự phát triển vượt bậc trong thế kỷ 20 và đầu thế kỷ 21 của công nghệ thông tin và truyền thông, công nghệ điều khiển học đã được phát triển ứng dụng rộng rãi trong các dự án cơ sở hạ tầng, công nghiệp và quốc phòng an ninh.

 

Tại Việt Nam, trong vài năm gần đây ngành tự động hóa có tiến bộ nhanh và đi vào chiều sâu. Nhiều doanh nghiệp trong nước đã có thể cung cấp hệ thống tự động hóa vào các nhà máy nhiệt điện, thủy điện, lọc dầu, hóa chất,… bằng cách tích hợp các thiết bị của các nhà sản xuất nước ngoài, tận dụng nguồn lực trong nước. Tuy nhiên, ở hầu hết các dự án có độ phức tạp cao về tự động hóa và công nghệ sản xuất, các doanh nghiệp tự động hóa Việt Nam chưa có khả năng tham gia thực hiện các dự án.

Sự cần thiết phải phát triển ngành tự động hóa ở Việt Nam

Giá trị gia tăng cao: Đây là các sản phẩm thuộc loại công nghệ cao nên giá trị gia tăng nội địa trung bình có thể đạt đến 50%, cá biệt có thể lên đến 80% - 90%. Đặc biệt phần giá trị gia tăng nội địa này nằm chủ yếu là ở lao động chất xám, bí quyết công nghệ và giải pháp thiết kế hệ thống.

Năng suất lao động cao: Giá trị và năng suất lao động đối với ngành sản xuất và dịch vụ này được đánh giá rất cao, mặt khác, chi phí đầu tư cơ sở sản xuất cũng như giá trị vật liệu thô và năng lượng trong cơ cấu sản phẩm là khá thấp.

Tiềm năng thị trường lớn: Tiểm năng thị trường trong nước và khu vực có thể đạt được hàng tỷ USD/năm, trong đó thị trường cho hệ thống điều khiển tự động cho các dây chuyền thiết bị tại Việt Nam cũng đến hàng trăm triệuUSD/năm. Hiện nay, hầu hết các hệ thống điều khiển tự động cho các nhà máy, các dây chuyền sản xuất được cung cấp bởi các nhà cung cấp nước ngoài như ABB, Yakogawa, Siemens, Toshiba, Alen Bradley,…

Đảm bảo an ninh quốc gia: Theo nghiên cứu từ các nguồn công khai, trong những năm trở lại đây khả năng xảy một cuộc chiến tranh mạng là hoàn toàn có thể xảy ra. Các cuộc tấn công trên mạng máy tính đã trở thành sự đe dọa thực sự đối với cơ sở hạ tầng của Quốc gia bao gồm giao thông vận tải, các nhà máy hóa chất, cung cấp nước và hệ thống điện lực. Việc gây mất điện diện rộng sẽ gây thiệt hại đáng kể cho nền kinh tế và làm suy yếu đi khả năng phòng vệ của Quốc gia trước khi một cuộc chiến tranh thực sự hay hạn chế nổ ra.

  Việc phát triển được ngành công nghiệp điều khiển do người Việt Nam làm chủ sẽ có ý nghĩa cực kỳ quan trọng trong việc đảm bảo bí mật Quốc gia và chống lại chiến tranh mạng so với trường hợp các hệ thống này được cung cấp bởi các công ty nước ngoài.

1.1. Nguồn nhân lực tự động hóa
Ở Việt Nam có nhiều trung tâm đào tạo nhân lực tự động hóa. Trong đó, có một số trung tâm đào tạo lớn như: Đại học Bách khoa Hà Nội, Đà Nẵng, Đại học Bách khoa Thành phố Hồ Chí Minh,… nhiều sinh viên sau khi ra trường được làm việc tại các công ty trong nước, nước ngoài chuyên về tự động hóa nên được trực tiếp tham gia vận hành, thực hiện công tác duy tu, bảo dưỡng tại các nhà máy công nghiệp hiện đại nên được trang bị nhiều kinh nghiệm tốt cũng như nâng cao trình độ. Đặc biệt, một số doanh nghiệp lớn đầu tư đầy đủ phòng thí nghiệm về tự động hóa như: trung tâm đào tạo Siemens tại Viện Nghiên cứu Cơ khí, Trung tâm đào tạo Rockwell của Đại học Bách khoa Hà Nội, Công ty ATS, các khoa đào tạo về tự động hóa trong các trường đại học khác như Đại học Bách khoa Thành phố, Đại học Sư phạm Thủ Đức, Đại học Công nghệ...

Hơn nữa, đa phần lực lượng tự động hóa tại Việt Nam có tuổi đời trẻ, ngoại ngữ tốt nên dễ dàng tiếp thu và học hỏi cũng như có điều kiện phát triển chuyên sâu về chuyên ngành tự động hóa. Như vậy, về cơ bản nguồn lực trong nước có thể đáp ứng được các yêu cầu để phát triển ngành tự động hóa tại Việt Nam.

1.2. Năng lực các doanh nghiệp tự động hóa trong nước
Đến nay, tại Việt Nam có rất nhiều các doanh nghiệp tự động hóa trong nước có khả năng thực hiện việc thiết kế, tích hợp, cấu hình, tích hợp và lập trình điều khiển PLC (programmable Logic Controller) và HMI (human machanine interface) của các hệ điều khiển SCADA (Surpervisory control and data acquisition system), DCS (distributed control system)…  từ thiết bị phần cứng và phần mềm được cung cấp bởi nhiều hãng khác nhau như Siemens, Schneider, ABB, Rockwell,…

Các lĩnh vực có thể tham gia rộng bao gồm: xi măng, thủy điện, nhiệt điện, hóa dầu, khai khoáng, hệ thống điều độ điện quốc gia, hệ thống bảo vệ, đo lường, điều khiển các trạm biến áp cho điện lưới quốc gia… và đều đáp ứng được yêu cầu của chủ đầu tư. Một số doanh nghiệp tiêu biểu như: Đại học Bách khoa Hà Nội cung cấp dịch vụ cho các nhà máy nhiệt điện, nhà máy giấy, Viện Nghiên cứu Cơ khí đã cung cấp hệ thống PLC, DCS cho các khu vực của các dây chuyền sản xuất xi măng, các nhà máy nhiệt điện, Viettronics cho nhà máy thủy điện, ATS cung cấp đến 40% các hệ thống SCADA/EMS cho các trung tâm điều độ hệ thống điện quốc gia, các hệ thống điều khiển, bảo vệ, đo lường, tích hợp cho các trạm biến áp của lưới điện quốc gia, DKNEC, NTC, IMI cho dây chuyền sản xuất công nghiệp khác…

1.2.1. Các công việc đã làm được
Về thiết kế, tích hợp các hệ thống tự động hóa cho các dây chuyền sản xuất đã thiết kế, tích hợp được hệ thống tự động hóa cho các dây chuyền sản xuất như nhà máy nhiệt điện đã thiết kế, tích hợp, cung cấp hệ thống điều khiển cho các thiết bị BOP như lọc bụi, hệ thống thải tro xỉ Nhà máy Vũng Áng 1, hệ thống vận chuyển cung cấp than… nhà máy thủy điện như thủy điện Bắc Hà 90 MW, Pleikrong 100 MW (Vietronic); nhà máy xi măng lò quay (các trạm xuất xi măng, bảo dưỡng, nâng cấp toàn bộ hệ thống DCS của Công ty xi măng Nghi Sơn), hệ thống SCADA/EMS cho các trung tâm điều độ hệ thống điện quốc gia, các hệ thống điều khiển, bảo vệ, đo lường, tích hợp cho các trạm biến áp của lưới điện quốc gia; nhà máy xử lý nước, các dây chuyền khai thác chế biến khoáng sản, các dây chuyền chế biến nông sản, thực phẩm…. Tuy nhiên với các dây chuyền sản xuất phức tạp đòi hỏi không chỉ làm chủ về công nghệ tự động hóa mà còn về công nghệ sản xuất thì chúng ta còn có hạn chế. Ví dụ về các hệ thống tự động hóa cho các nhà máy, dây chuyền chúng ta chưa làm chủ như hệ thống tự động hóa cho nhà máy nhiệt điện, nhà máy lọc hóa dầu, nhà máy chê biến hóa chất…

Về mặt vận hành, bảo trì, bảo dưỡng, sửa chữa, các doanh nghiệp có thể tham gia chủ trì vận hành, bảo dưỡng sửa chữa các dây chuyền thiết bị, các nhà máy với mức độ tự động hóa cao như: Bảo dưỡng toàn bộ hệ thống DCS của Nhà máy Xi măng Nghi Sơn, nâng cấp và thay thế hệ thống điều khiển cũ và cấp mới một số dây chuyển cho Trạm xuất xi măng Nghi Sơn, thay thế van cấp hơi và phần mềm điều khiển cho tuốc bị hơi Nhà máy Phả Lại…

Các hệ thống điều khiển do các doanh nghiệp trong nước cung cấp cơ bản đáp ứng được yêu cầu của chủ đầu tư và có giá thành cạnh tranh.

1.2.2. Các công việc chưa làm được
Hiện tại, doanh nghiệp tự động hóa trong nước mới chỉ thực hiện các dự án cho các nhà máy nhỏ như thủy điện, các máy móc thiết bị độc lập và dây chuyền sản xuất với mức độ phức tạp trung bình. Hoặc một số công đoạn hoặc một dây chuyền sản xuất như các hệ thống của các Nhà máy nhiệt điện, xi măng…Với các dây chuyền sản xuất phức tạp đòi hỏi không chỉ làm chủ về công nghệ tự động hóa mà còn về công nghệ sản xuất thì chúng ta còn có hạn chế. Ví dụ về các hệ thống tự động hóa cho các nhà máy, dây chuyền chúng ta chưa làm chủ như hệ thống tự động hóa cho nhà máy nhiệt điện, nhà máy lọc hóa dầu, nhà máy chê biến hóa chất…

1.2.3. Nguyên nhân
    Gói tự động hóa là gói nhỏ trong cả hợp đồng EPC và phụ thuộc rất nhiều vào công nghệ của tổng thầu, vào đặc tính kỹ thuật của các thiết bị trong gói thầu EPC nên khó ký được độc lập với chủ đầu tư. Gói thầu này tuy không lớn nhưng là rất quan trọng, nếu chậm, hỏng sẽ ảnh hưởng đến toàn bộ dự án, thiệt hại là rất lớn.
Thông thường, nếu nhà thầu EPC là tổng thầu nước ngoài sẽ không giao cho nhà thầu tự động hóa trong nước. Hơn nữa, nhà thầu nước ngoài cung cấp gói tự động hóa không sử dụng nhà thầu trong nước làm thầu phụ vì muốn giữ bí quyết công nghệ. Ngay khi tổng thầu EPC là doanh nghiệp trong nước, tổng thầu cũng không giao cho nhà thầu tự động hóa Việt Nam vì chưa tin tưởng vào năng lực và kinh nghiệm cũng như khả năng tổ chức thực hiện.
Một nguyên nhân chủ quan nữa là các doanh nghiệp trong nước do chưa có cơ hội trao dự án lớn nên chưa có kinh nghiệm tổ chức thực hiện.

2. Giải pháp
- Cần tách gói thầu hệ thống điều khiển tự động thành một gói thầu riêng biệt, chỉ định gói thầu tự động hóa cho một đơn vị có năng lực trong nước đơn vị này sau đó sử dụng một nhà thầu nước ngoài chuyên về tự đông hóa là nhà thầu phụ để học kinh nghiệm quản lý, công nghệ có sẵn của đơn vị nước ngoài.

   Đây là mô hình rất thành công trên thế giới cũng như tại Việt Nam. Điển hình như chương trình nội địa hóa cơ khí thủy công của các dựán thủy điện, nội địa hóa các thiết bị phụ trợ cho nhà máy Nhiệt điện (11 hệ thống). Đến nay, các nhà thầu trong nước có thể thiết kế chế tạo thiết bị cơ khí thủy công cho Dự án thủy điện Sơn La 2400MW, Lai Châu 1200MW và có giá thành cạnh tranh. Đối với các dự án nhiệt điện, tuy là bước đầu nhưng các nhà thầu Việt Nam đang mạnh lên

 - Với Chương trình thiết kế, chế tạo thiết bị nhà máy nhiệt điện theo QĐ 1791/TTg, cần đưa thêm hệ thống tự động hóa vào các thiết bị thiết kế, chế tạo trong nước.

- Hiện nay, các doanh nghiệp tự động hóa đều thực hiện dự án bằng cách mua các thiết bị nhập khẩu, tích hợp và lập trình, nhưng kiến thức chuyên sâu về công nghệ của quá trình sản xuất lại không sâu nên không đủ khả năng để thiết kế hệ thống tự động hóa cho quá trình sản xuất này. Giải pháp là đơn vị chuyên về cung cấp hệ thống hệ tự động hóa cần liên kết chặt chẽ với các ban kỹ thuật, ban quản lý dự án của chủ đầu tư để nắm bắt được công nghệ chuyên ngành.

- Bộ KHCN cấp kinh phí cho hoạt động nghiên cứu làm chủ, hoặc nhận chuyển giao công nghệ một cách trọng tâm và thích hợp trong đó, chú trọng phát triển, nâng cấp các thiết bị, đào tạo nguồn nhân lực khoa học công nghệ trong lĩnh vực tự động hóa. Thành lập Trung tâm Đào tạo về tự động hóa cho các nhà máy nhiệt điện để làm chủ về thiết kế, tích hợp, cung cấp hệ thống tự động hóa cho các dự án nhiệt điện tại Việt Nam.

3. Kết luận
Việc tham gia, làm chủ thiết kế, cung cấp hệ thống hệ thống tự động hóa không những đem lại công ăn việc làm với lợi nhuận cao mà còn giúp các doanh nghiệp Việt Nam làm chủ không những về hệ thống tự động hóa mà còn về công nghệ của quá trình sản xuất.

Trong thời gian qua, chúng ta thiếu một chiến lược, chính sách tổng thể, đồng bộ để làm chủ việc thiết kế, tích hợp cung cấp hệ thống tự động hóa cho các dây chuyền sản xuất, các dự án đầu tư tại Việt Nam.

Sau hội nghị VCCA 2015, chúng tôi hy vọng các cơ quan hữu trách nghiên cứu một chính sách tổng thể, đồng bộ, đáp ứng nhu cầu làm chủ các công nghệ hiện đại, đáp ứng nhu cầu an ninh quốc gia về các hệ thống điều khiển.

PGS.TS.Nguyễn Chỉ Sáng Chương trình KC 03

Số 178 (12/2015)♦Tạp chí tự động hóa ngày nay


Newer news items:
Older news items:

 

Hỗ trợ online

Hỗ trợ Web
Mr Phương: 0988906030

Liên kết & Quảng cáo


 
 
 

logost new




 


 



Nhà tài trợ


Sửa biến tần

Mới cập nhật

Tìm kiếm

Quảng cáo&Liên kết