4 thế hệ của bảo trì

1. Bốn thế hệ bảo trì
1.1 Bảo trì từ xa xưa

Bảo trì là công việc đã xuất hiện kể từ khi người tiền sử biết sử dụng các loại công cụ sơ khai bằng đá để phục vụ cho việc săn bắt, hái lượm.

 

Đến khi con người phát minh ra bánh xe (khoảng 3500 năm trước công nguyên, tại vùng Lưỡng Hà) thì tầm quan trọng của bảo trì mới được nhận thức đầy đủ hơn nhằm giúp con người đi lại và vận chuyển hàng hóa.

Đến khoảng những năm 900 đến 700 trước công nguyên thì công cụ bằng sắt bắt đầu xuất hiện, kéo theo là đó sự cải tiến về công nghệ chế tạo bánh xe, các vành bánh xe làm bằng sắt, các trục xe được làm bằng sắt rồi có sử dụng bôi trơn trong các vòng bi giữa trục và bánh xe hoạt động êm hơn.

Cho mãi đến giữa thế kỷ XVIII, cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ nhất diễn ra tại Châu Âu, máy móc được con người sử dụng nhiều hơn trong hoạt động sản xuất thì bảo trì bắt đầu hình thành một cách có hệ thống khi yêu cầu về sửa chữa máy móc hư hỏng hỏng ngày càng cấp thiết. Đến những năm 1914 - 1918 của thế chiến thứ nhất và 1937-1945 của thế chiến thứ hai, bảo trì không chỉ phục vụ hoạt động sản xuất nữa mà còn tham gia tích cực trong việc bảo trì thiết bị quân sự.

Vài thập niên gần đây bảo trì bắt đầu được coi trọng đúng mức hơn khi có sự gia tăng khổng lồ về số lượng và chủng loại của các tài sản cố định như máy móc, thiết bị, nhà xưởng.

1.2 Bốn thế hệ của bảo trì

Các nhà khoa học và công nghệ cho rằng lịch sử phát triển của bảo trì đã trải qua 4 thế hệ, cụ thể là:

Thế hệ thứ nhất:
Bắt đầu từ xa xưa mãi đến những năm bắt đầu Chiến tranh thế giới lần thứ hai. Trong giai đoạn này công nghiệp chưa được phát triển, việc chế tạo và sản xuất được thực hiện bằng các thiết bị máy móc còn đơn giản, thời gian ngừng máy ít ảnh hưởng đến sản xuất, do đó công việc bảo trì cũng rất đơn giản. Bảo trì không ảnh hưởng lớn về chất lượng và năng suất. Vì vậy ý thức phòng ngừa các thiết bị hư hỏng chưa được phổ biến trong đội ngũ quản lý. Do đó không cần thiết phải có các phương pháp bảo trì hợp lý cho các máy móc. Bảo trì lúc bấy giờ chủ yếu là sửa chữa các máy móc và thiết bị khi có hư hỏng xảy ra. Những mong đợi, hay mục tiêu của bảo trì trong thời kỳ này là “Sửa chữa máy móc khi bị hư hỏng”. Kỹ thuật bảo trì thì chỉ là “Các kỹ thuật sửa chữa cơ bản”.

Thế hệ thứ hai:
Mọi thứ đã thay đổi suốt thời kỳ Chiến tranh thế giới lần thứ hai. Những áp lực trong thời gian chiến tranh đã làm tăng nhu cầu của nhiều loại hàng hóa trong khi nguồn nhân lực cung cấp cho công nghiệp lại sút giảm đáng kể. Do đó việc cơ khí hóa được phát triển mạnh mẽ để bù đắp lại nguồn nhân lực bị thiếu hụt. Vào những năm 1950, máy móc các loại đã được đưa vào sản xuất nhiều hơn và phức tạp hơn. Nền công nghiệp trở nên phụ thuộc nhiều hơn vào máy móc, thiết bị. Do sự phụ thuộc này ngày càng tăng, thời gian ngừng máy đã ngày càng được quan tâm nhiều hơn. Đôi khi có một câu hỏi được nêu ra là “con người kiểm soát máy móc hay máy móc điều khiển con người”. Nếu công tác bảo trì được thực hiện tốt trong nhà máy thì con người sẽ kiểm soát được máy móc, ngược lại máy móc hư hỏng sẽ gây khó khăn cho con người. Vì vậy đã có ý kiến cho rằng những hư hỏng của thiết bị có thể và  nên được phòng ngừa để tránh làm mất thời gian khi có những sự cố hay tình huống khẩn cấp xảy ra. Từ đó đã bắt đầu xuất hiện khái niệm “Bảo trì phòng ngừa” mà mục tiêu chủ yếu là giữ cho thiết bị luôn hoạt động ở trạng thái ổn định chứ không phải sửa chữa khi có hư hỏng. Trong những năm 1960 giải pháp bảo trì chủ yếu là đại tu thiết bị vào những khoảng thời gian nhất định. Chi phí bảo trì cũng đã bắt đầu gia tăng đáng kể so với những chi phí vận hành khác. Điều này dẫn đến việc phát triển những hệ thống kiểm soát và lập kế hoạch bảo trì.     Cuối cùng tổng vốn đầu tư cho tài sản cố định đã gia tăng đáng kể do đó người ta đã bắt đầu tìm kiếm những giải pháp để có thể tăng tối đa tuổi thọ của các tài sản này.

Những mục tiêu mong đợi của bảo trì trong thời kỳ này là:

1- Khả năng sẵn sàng của máy cao hơn;

2- Tuổi thọ của máy dài hơn;

3- Chi phí bảo trì thấp hơn.

Quan điểm về hư hỏng là:
Máy hư hỏng theo đường cong dạng “bồn tắm” (3 giai đoạn: - giai đoạn ban đầu, chạy rà; - giai đoạn bình thường, ổn định - giai đoạn khốc liệt và phá hủy).

Các kỹ thuật bảo trì đã phong phú và phức tạp hơn, bao gồm:

1- Tiểu tu và đại tu theo kế hoạch;

2- Các hệ thống lập kế hoạch và kiểm soát công việc bảo trì (dùng biểu đồ PERTH, Gantt, …);

3- Có sự hỗ trợ của máy tính lớn và chậm (so với ngày nay).

Thế hệ thứ ba:

Từ giữa những năm 1980, công nghiệp thế giới đã có những thay đổi lớn lao, các hệ thống cơ khí, tự động hóa dần trở nên phổ biến. Những thay đổi này đòi hỏi và mong đợi ở bảo trì ngày càng nhiều hơn.

Những mục tiêu mong đợi của bảo trì trong thế hệ này là:

1- Khả năng sẵn sàng của máy cao hơn;

2-  Độ tin cậy của máy cao hơn;

3- An toàn hơn;

4-  Không tác hại đến môi trường;

5-  Chất lượng sản phẩm tốt hơn;

6-  Tuổi thọ máy dài hơn;

7- Hiệu quả kinh tế lớn hơn.

Quan điểm về hư hỏng: nhận dạng và thống kê có sáu dạng hư hỏng chính (hình 2).

Trong thực tiễn hoạt động của máy móc, thiết bị chỉ có khoảng 11% trường hợp hư hỏng là theo thời gian (theo tuổi của thết bị), còn lại 89% hư hỏng là ngẫu nhiên. Điều đó có nghĩa là một thiết bị mới mua, một bộ phận hoặc phụ tùng mới được bảo trì hoặc thay thế có thể hư hỏng bất kỳ lúc nào trong quá trình hoạt động.

Những người bảo trì bị bắt buộc phải suy nghĩ lại, trong bảo trì theo kế hoạch ở thế hệ thứ hai thì máy móc, thiết bị vẫn có thể bị hư hỏng trước thời hạn bảo trì lần sau, hoặc là biết đâu thiết bị, bộ phận vẫn còn tốt, tại sao phải tháo ra để bảo trì hoặc thay thế. Cần phải có những kỹ thuật bảo trì mới.

Hình 2:   6 dạng hư hỏng chính.

Các kỹ thuật và phương pháp bảo trì trong thế hệ này là:

1- Giám sát tình trạng;  

2- Thiết kế đảm bảo khả năng bảo trì;

3- Thiết kế đảm bảo độ tin cậy;

4- Thiết kế đảm bảo an toàn;

5- Thiết kế đảm bảo ergonomics;

6- Nghiên cứu và phân tích rủi ro;

7- Phân tích dạng và tác động hư hỏng (FMEA);

8- Phân tích nguyên nhân gốc rễ;

9-  Sử dụng máy tính nhỏ và nhanh;

10 - Các hệ chuyên gia;  

11- Làm việc theo nhóm và ủy quyền.

Thế hệ thứ 4:

Bắt đầu từ cuối những năm 1990, khi mà khoa học kỹ thuật, công nghệ đã có những bước tiến vượt bậc, con người đã ứng dụng tự động hóa và công nghệ cao trong nhiều lĩnh vực sản xuất.
Những mục tiêu mong đợi đối với bảo trì cũng cao hơn:

1- Khả năng sẵn sàng của máy cao hơn nữa;

2-  Độ tin cậy của máy cao hơn nữa;

3- An toàn hơn nữa (OSHAS 18000),

4- Không tác hại đến môi trường (ISO 14000);

5- Chất lượng sản phẩm tốt hơn  (Sáu Sigma);

6- Tuổi thọ máy dài hơn;

7-  Hiệu quả kinh tế lớn hơn (Bảo trì tinh gọn);

8- Quản lý rủi ro;

9- Những tổ chức bảo trì tin cậy cao;

10-  Các giải pháp bảo trì hiệu quả hơn.
Quan điểm về hư hỏng toàn diện hơn.
Có sáu dạng hư hỏng chính (hình 2).
Nguồn gốc gây ra các hư hỏng cũng được chỉ ra:   

1- Sai lỗi do con người vận hành, sử dụng, bảo trì;

2- Sai lỗi do hệ thống;

3- Sai lỗi do thiết kế;

4- Sai lỗi do thi công, chế tạo, lắp ráp;

5- Sai lỗi do chi tiết, bộ phận.

Các kỹ thuật bảo trì phong phú, hiện đại được tích hợp, kết nối, chia sẻ và phát triển hơn như:

1- Phân tích nguyên nhân gốc rễ (RCA);

2- Bảo trì chính xác;

3- Lập ngân sách bảo trì trên cơ sở Zero (ZBB);

4- Bảo trì năng suất toàn diện (TPM);

5- Tối ưu hóa bảo trì phòng ngừa (PMO);

6- Bảo trì tập trung vào độ tin cậy (RCM);

7- Nhóm làm việc định hướng vào sứ mệnh (MDW);

8- Mô hình hóa độ tin cậy;

9- Tối ưu hóa phụ tùng;  

10- Thuê bên ngoài;  

11- Các hệ thống hoạch định nguồn lực doanh nghiệp (ERP);

12- Hệ thống quản lý bảo trì bằng máy tính (CMMS) và Hệ thống quản lý tài sản doanh nghiệp (EAM);

13- e-Maintenance, bao gồm: thiết bị di động (điện thoại thông minh, tablet) và công nghệ di động; cảm biến không dây và thông minh. mạng không dây; Internet of Things;  mạng xã hội (Facebook, Twitter, … ), ...

2. Tư duy lại về bảo trì

Ngày nay bảo trì đóng một vai trò rất quan trọng trong mọi hoạt động sản xuất, có thể so sánh như một đội cứu hỏa. Đám cháy một khi đã xảy ra phải được dập tắt càng nhanh càng tốt để tránh những thiệt hại lớn. Tuy nhiên, dập tắt lửa không phải là nhiệm vụ chính của đội cứu hỏa mà công việc chính của họ là phòng ngừa không cho đám cháy xảy ra. Cho nên vai trò chính của bảo trì là:  

1- Phòng ngừa để tránh cho máy móc không bị hư hỏng,  đảm bảo hoạt động đúng yêu cầu và liên tục tương ứng với tuổi thọ của máy dài hơn;

2-  Cực đại hóa năng suất nhờ chỉ số khả năng sẵn sàng của máy cao nhất và thời gian  ngừng máy để bảo trì là nhỏ nhất;  

3- Tối ưu hóa hiệu suất của máy;  

4-  Máy móc vận hành có hiệu quả và ổn định hơn, chi phí vận hành ít hơn, đồng thời làm ra sản phẩm đạt chất lượng hơn;

 5- Tạo ra môi trường làm việc an toàn, phát triển bền vững hơn.

Ở những nước đang phát triển, như Việt Nam ta có nhiều máy móc cũ, công nghệ lạc hậu đang hoạt động, vấn đề công suất, hiệu suất, chỉ số khả năng sẵn sàng còn thấp, mấy móc thường bị hư hỏng, vấn đề phụ tùng thay thế cũng là những yếu tố cần hết sức quan tâm. Ngay những nhà máy có trang thiết bị máy móc hiện đại những cũng chưa phải là đã đạt các tiêu chuẩn về coogn suất, chất lượng, hiệu quả như các nước tiên tiến. Nếu công tác bảo trì tốt, hậu quả của các hư hỏng đã được đề phòng thì những khiếm khuyết này chắc chắn có thể giải quyết được.

Ở bất kỳ nơi nào trên thế giới người ta cũng đã tính trung bình rằng một khoản chi phí bằng từ 4 đến 40 lần giá mua thiết bị ban đầu được dùng để duy trì chúng vận hành đạt yêu cầu bằng các hoạt động bảo trì phòng ngừa và phục hồi trong suốt tuổi đời (chu kỳ sống) của chúng. Khoản chi phí này được gọi là chi phí chu kỳ sống (Life Cycle Cost, viết tắt là LCC).

Như vậy, khi mua thiết bị, chúng ta cần quan tâm đến LCC là bao nhiêu chứ không phải là giá mua thiết bị ban đầu là bao nhiêu.

Trong doanh nghiệp, từ người lãnh đạo đến từng nhân viên cần thay đổi tư duy và nhận thức về bảo trì:

• Bảo trì là vấn đề kinh tế mang tính chiến lược cần được quan tâm đúng mức, bắt đầu từ lãnh đạo cao nhất của doanh nghiệp.

• Bảo trì là một ngành kinh doanh, là con gà đẻ trứng vàng của doanh nghiệp.

• Bảo trì là trung tâm của lợi nhuận đang còn bị lãng quên.

• Bảo trì cần có sự tham gia trực tiếp hoặc gián tiếp của mọi người trong doanh nghiệp.

Huỳnh Phan Tùng,  Trần Vạn Nhân
Viện năng suất và Bảo trì, Trường Đại học Bách khoa TP. HCM

Số 180 (3/2016)♦Tạp chí tự động hóa ngày nay


Newer news items:
Older news items:

 

Hỗ trợ online

Hỗ trợ Web
Mr Phương: 0988906030

Liên kết & Quảng cáo


 
 
 



 



 
 
 

Nhà tài trợ


Sửa biến tần

Mới cập nhật

Tìm kiếm

Quảng cáo&Liên kết